1. Sự hình thành chế định về văn phòng Quốc hội

Từ năm 1946 đến 1961: chưa có văn bản pháp luật nào quy định cơ quan giúp việc của Quốc hội, song trên thực tế cơ quan giúp việc của Quốc hội là Văn phòng Ban thường trực quốc hội.

Trong những năm từ 1945 đến 1992, về mặt chính thức chưa có cơ quan nào mang tên chính thức là “văn phòng quốc hộ” để phục vụ hoạt động của Quốc hội. Trong thời gian này, cơ quan phục vụ hoạt động của Quốc hội thường mang những tên khác nhau. Từ năm 1956 đến năm 1961, văn phòng thường trực quốc hội, chính thức là cơ quan của ban thường trực Quốc hội, phục vụ hoạt động của ban thường trực quốc hội, trên thực tế phục vụ cả hoạt động của Quốc hội. Từ năm 1962 đến năm 1980, văn phòng Uỷ ban thường trực quốc hội, cơ quan của Uỷ ban thường vụ quốc hội, nhưng xét chức năng, nhiệm vụ, cơ quan này vừa phục vụ hoạt động của Uỷ ban thưởng vụ quốc hội, vừa phục vụ hoạt động của Quốc hội. Từ năm 1980 đến năm 1992, văn phòng quốc hội và hội đồng nhà nước là cơ quan vừa phục vụ Quốc hội, vừa phục vụ hoạt động của Hội đổng nhà nước - cơ quan cao nhất, hoạt động thường xuyên của Quốc hội, Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau ngày 26.9.1992, với Nghị quyết số 01/UBTVQH9 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, văn phòng quốc hội và hội đồng nhà nước được đổi tên và mang tên chính thức là “Văn phòng quốc hội.

Từ 1992 đến nay, cơ quan giúp việc của Quốc hội là văn phòng Quốc hội, được thành lập theo Nghị quyết số 01/NQ/UBTVQH9 và Nghị quyết số 02NQ/UBTVGHð. Nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng Quốc hội được quy định tại Nghị quyết số 02NG/UBTVGQHð và Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ quốc hội (Điều 43) do Quốc hội khoá IX thông qua ngày 07.07.1993. Về cơ cấu tổ chức, Chủ nhiệm Văn phòng quốc hội là người đứng đầu văn phòng quốc hội, chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ quốc hội về công tác của văn phòng. Văn phòng quốc hội hiện nay có 20 đơn vị (17 đơn vị cấp vụ và tương đương; 2 đơn vị cấp phòng).

2. Quy định về văn phòng Quốc hội hiện nay

Văn phòng Quốc hội là cơ quan hành chính, tham mưu tổng hợp, phục vụ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Văn phòng Quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Tổ chức phục vụ các kì họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các hoạt động khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội;

- Quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khác phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội;

- Quản lý kinh phí hoạt động của Quốc hội;

- Chịu trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Quốc hội; tạo điều kiện cho đại biểu Quốc hội trong việc trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh.

Tổng thư kí Quốc hội đồng thời là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động của Văn phòng Quốc hội.

Các Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Tổng thư kí Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Văn phòng Quốc hội; quyết định biên chế đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và quy định chế độ, chính sách áp dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khác thuộc Văn phòng Quốc hội phù họp với tính chất đặc thù trong hoạt động của Quốc hội.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)