Vốn dựa trên cơ sở rủi ro là số đo sức mạnh tài chính của một ngân hàng, khi xem xét đến các khoản dự trữ vốn dành cho các khoản cho vay, đầu tư, và một số mục khác ngoài bảng cân đối kế toán. Nói chung, các tài sản có rủi ro tín dụng cao hơn đòi hỏi nhiều vốn dự trữ hơn các tài sản có rủi ro thấp. Mục đích của vốn trên cơ sở rủi ro là: (1) khuyến khích các ngân hàng duy trì vốn cổ phần đệm đầy đủ, bao gồm cổ phiếu thường, để hỗ trợ các tài sản trên bảng cân đối kế toán; (2) bao gồm các mục ngoài bảng cân đối kế toán trong tính toán lượng vốn thích hợp; (3) khuyến khích sự nắm giữ các tài sản thanh khoản rủi ro thấp; (4) thiết lập bảng hướng dẫn quốc tế thống nhất đối với sự thích hợp về vốn ngân hàng trong các nước nhóm mười (GROUP OF TEN).
Tại Mỹ, công thức tính vốn trên cơ sở rủi ro làm tăng vốn bắt buộc từ 5.5% tài sản lên 8%, 4% trong đó phải là vốn cấp 1 (cổ phiếu thường cộng với cổ phiếu ưu đãi không tích lũy); và 4% các loại vốn đủ điều kiện khác, bao gồm dự trữ về lỗ khoản cho vay, cổ phiếu Ưu đãi vĩnh viễn, công cụ vốn lai (hybrid), như các trái phiếu chuyển đổi bó buộc và khoản nợ phụ thuộc.
Các nguyên tắc trên cơ sở rủi ro, được ủy ban Basle về Điều tiết Ngân hàng và Thực thi Giám sát (ủy ban Giám sát Basle), là sự thay đổi nền tảng trong việc tính toán vốn ngân hàng, so với các số đo tính trước đây dùng để tính toán sự thích hợp về vốn. Nó chuyển sự xác định vốn từbên— nợ phải trả của bảng cân đối kế toán sang bên tài sản, sử dụng công thức gán trọng số rủi ro cụ thể cho các nhóm tài sản khác nhau. Tỷ lệ vốn trên cơ sở rủi ro của ngân hàng được tính bằng cách chia vốn đủ điều kiện của nó cho tài sản rủi ro có trọng số. Các tài sản được đánh giá 100% rủi ro, như khoản cho vay thương mại và khoản cho vay tiêu dùng trả góp, đòi hỏi một định chế duy trì tổng vốn cổ phần (vốn CẤP 1 và vốn CẤP 2) bằng 8% giá trị sổ sách của tài sản. Các tài sản được gọi là không rủi ro, có đánh giá rủi ro bằng zero (tiền mặt, chứng khoán chính phủ Mỹ), không cần duy trì vốn dự trữ.
Trọng số rủi ro đối với bảng cân đối kế toán được tóm lại như sau:
Trọng số rủi ro 0%: tiền mặt, vàng thỏi, khoản cho vay được bảo đảm bởi chính phủ Mỹ, số dư nợ từ các Ngân hàng Dự trữ Liên bang.
Trọng số rủi ro 20%: tiền gửi không kỳ hạn, các chi phiếu trong quá trình thu, vốn tham gia rủi ro trong giấy chấp nhận của ngân hàng, và tín dụng thư, các trái quyền ngắn hạn đáo hạn trong một năm hoặc ít hơn.
Trọng số rủi ro 50%: khoản cho vay cầm cố nhà ở gia đình, chủ sở hữu hay thuê, các chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố do tư nhân phát hành, và các trái phiếu thu nhập đô thị.
Trọng số rủi ro 100%: khoản cho vay xuyên biên giới dành cho những người vay không phải là công dân Mỹ, khoản cho vay thương mại, khoản cho vay tiêu dùng, chứng khoán được đảm bảo bằng cầm cố phái sinh, trái phiếu phát triển công nghiệp, chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố tách riêng, vốn cấp cho liên doanh, và các tài sản vô hình như hợp đồng vế lãi suất, hợp đồng hoán đổi tiền tệ, và các công cụ tài chính phái sinh khác.