1. Hiểu thế nào về văn phòng luật sư?
Văn phòng luật sư đại diện một hình thức linh hoạt trong tổ chức hành nghề luật sư, mang đến sự thuận tiện cho các chủ thể tham gia hoạt động pháp lý.
Theo định nghĩa của Luật luật sư 2006, được sửa đổi và bổ sung vào năm 2012, văn phòng luật sư là kết quả của sự thành lập và tổ chức do một luật sư chịu trách nhiệm. Văn phòng này hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân.
Trong việc thành lập văn phòng, luật sư đóng vai trò là Trưởng văn phòng, hoàn toàn chịu trách nhiệm về tài sản cá nhân đối với mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn phòng cũng là người đại diện pháp lý của văn phòng.
Quy định tên văn phòng luật sư do luật sư lựa chọn, theo quy định của Luật doanh nghiệp, đòi hỏi phải bao gồm cụm từ “văn phòng luật sư”. Đồng thời, nó không được trùng lặp hoặc gây nhầm lẫn với tên của bất kỳ tổ chức hành nghề luật sư khác đã đăng ký hoạt động. Các từ ngữ, ký hiệu cũng phải tuân theo truyền thống lịch sử, văn hóa và đạo đức của dân tộc.
Văn phòng luật sư được quy định phải có con dấu và tài khoản theo đúng quy định của pháp luật.
Ưu điểm khi thành lập văn phòng luật sư là doanh nghiệp tư nhân, nơi một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Điều này mang lại toàn quyền quyết định cho Trưởng văn phòng Luật về mọi khía cạnh của hoạt động văn phòng.
Tuy nhiên, cũng có nhược điểm khi thành lập văn phòng luật sư, như việc không có khả năng phát hành chứng khoán, doanh nghiệp không thể huy động nguồn vốn từ nhiều nguồn bên ngoài. Mỗi luật sư chỉ có thể thành lập một văn phòng Luật và phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi vấn đề pháp lý phát sinh. Quy mô nhỏ của văn phòng cũng có thể tạo ra khó khăn trong việc xử lý nhiều vụ án hoặc các vấn đề lớn.
2. Hiểu thế nào về công ty luật?
Công ty luật, một dạng tổ chức hành nghề luật sư, đem đến sự linh hoạt và chuyên nghiệp trong lĩnh vực pháp lý, được quản lý và giám sát bởi sở tư pháp. Các công ty luật có thể là công ty luật hợp danh hoặc công ty luật trách nhiệm hữu hạn.
Trong quá trình đặt tên, công ty luật trách nhiệm hữu hạn phải tuân theo quy định của luật doanh nghiệp và bao gồm cụm từ "công ty luật hợp danh" hoặc "công ty luật trách nhiệm hữu hạn". Tên này không được trùng lặp hoặc gây nhầm lẫn với các tổ chức luật sư khác đã đăng ký hoạt động, và phải tuân thủ các nguyên tắc về truyền thống, lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
So với văn phòng luật sư, công ty luật có đội ngũ nhân sự đa dạng hơn, với nhiều luật sư và trợ lý luật sư có thể hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ một cách nhanh chóng.
Đối với công ty luật hợp danh:
Ưu điểm: Chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn giữa các thành viên, tạo sự tin cậy và ổn định. Dễ dàng tạo niềm tin từ đối tác do có thành viên hợp danh có uy tín cao và trình độ chuyên môn.
Nhược điểm: Không có khả năng phát hành chứng khoán.
Đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn:
Ưu điểm: Tự chủ trong kinh doanh, quyết định ngành nghề, địa bàn hoạt động và mở rộng quy mô. Tự do quản lý, sử dụng vốn và tài sản. Quyền lực tự chủ trong quyết định công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ.
Nhược điểm: Không có khả năng phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Quyền lực phân chia giữa các chủ sở hữu.
Cả hai dạng công ty luật mang lại những ưu điểm và nhược điểm riêng, giúp họ phát triển và hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực pháp lý.
3. So sánh văn phòng luật sư và công ty luật
Văn phòng luật sư và công ty luật đều là tổ chức hành nghề luật sư nhưng cũng có những điểm khác biệt, cụ thể như:
Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức:
Theo Điều 33 Luật luật sư 2006, văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Luật sư thành lập văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng. Văn phòng luật sư có con dấu, tài khoản theo quy định của pháp luật.
Điều 34 Luật luật sư 2006 có quy định, công ty luật bao gồm các hình thức công ty hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Thành viên của các công ty luật này phải là luật sư. Đối với công ty luật hợp danh, có ít nhất hai luật sư thành lập và không có thành viên góp vốn. Đối với công ty luật TNHH, công ty luật TNHH hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập, công ty luật TNHH một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu.
Thứ hai, về tên gọi:
Khoản 2 Điều 33 Luật luật sư 2006 quy định rằng tên của văn phòng luật sư do luật sư lựa chọn và theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “văn phòng luật sư”, không được đặt tên trùng lặp hoặc gây nhầm lẫn với tổ chức hành nghề luật sư khác đã đăng ký hoạt động.
Còn Điều 34 Luật luật sư 2006 có quy định tên của công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do các thành viên thoả thuận lựa chọn, tên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do chủ sở hữu lựa chọn và theo quy định của Luật doanh nghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “công ty luật hợp danh” hoặc “công ty luật trách nhiệm hữu hạn”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác.
Tên của văn phòng luật sư và công ty luật đều không được sử dụng từ ngữ vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Thứ ba, về đại diện theo pháp luật và trách nhiệm với nghĩa vụ của doanh nghiệp:
Đối với văn phòng luật sư, trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng.
Theo Thông tư 02/2019/TT-NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch thanh toán (có hiệu lực từ ngày 01/03/2019) thì văn phòng luật sư thuộc đối tượng được mở tài khoản ngân hàng để thanh toán. Chủ tài khoản thanh toán là văn phòng luật sư thay vì là người đại diện theo pháp luật như trước đây.
Đối với công ty luật, đại diện theo pháp luật của công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH hai thành viên trở lên do công ty thỏa thuận; còn đại diện theo pháp luật của công ty luật TNHH một thành viên là giám đốc công ty.
Về phần trách nhiệm với nghĩa vụ của doanh nghiệp, công ty luật hợp danh chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty, nếu tài sản của công ty không đủ để thanh toán các khoản nợ thì các thành viên hợp danh phải tiếp tục lấy tài sản của mình ra để thanh toán các khoản nợ của công ty.
Thành viên của công ty luật TNHH chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp của mình.
Trên đây là những khác biệt căn bản giữa công ty Luật và văn phòng Luật, dựa trên nhu cầu cá nhân của từng chủ thể mà chúng ta lựa chọn mở công ty hay mở văn phòng.
4. Có thể vừa thành lập công ty luật vừa thành lập văn phòng luật sư không?
Theo Điều 32 của Luật Luật sư 2006 (được sửa đổi bởi khoản 15 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012), một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư, bao gồm văn phòng luật sư và công ty luật. Quy định này rõ ràng đặt ra giới hạn, không cho phép một cá nhân đồng thời thành lập cả công ty luật và văn phòng luật sư.
Điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục, làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật Luật sư. Thêm vào đó, tổ chức hành nghề luật sư phải có trụ sở làm việc.
Với quy định cụ thể như trên, nếu một luật sư đã thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật, thì sẽ không thể đồng thời thành lập văn phòng luật sư và ngược lại. Quy định này giúp đảm bảo sự chuyên nghiệp và tuân thủ trong hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, đồng thời ngăn chặn việc lạm dụng quyền lợi và tránh xung đột lợi ích trong ngành luật sư.
Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi đưa ra về vấn đề này, quý khách có thể tham khảo thêm bài viết liên quan cùng chủ đề của Luật Minh Khuê như: Văn phòng luật sư là gì? Văn phòng luật sư khác gì công ty luật? Nếu quý khách có nhu cầu cần tư vấn pháp luật liên quan thì hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.