1. Hành vi xâm phạm quyền tác giả trên Internet là gì?

Theo quy định của pháp luật, có thể hiểu hành vi xâm phạm quyền tác giả trên internet là hành vi chiếm đoạt, sao chép, mạo danh tác giả, công bố, phân phối tác phẩm, sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới mọi  hình thức. Hành vi này sẽ gây ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của tác giả mà không có sự đồng ý của tác giả diễn ra trên internet.

Quyền tác giả khá rộng, tuy nhiên không phải tất cả quyền tác giả đều được bảo hộ trên internet. Theo quy định của pháp luật có thể xác định các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả trên internet bao gồm:

Thứ nhất, đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác

- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác

- Tác phẩm báo chí

- Tác phẩm âm nhạc

- Tác phẩm sân khấu

- Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh)

- Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng

- Tác phẩm nhiếp ảnh

- Tác phẩm kiến trúc

-  Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học

- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian

- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Thứ hai, đối với tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy nếu không gây ảnh hưởng đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Thứ ba, đối với tác phẩm được bảo hộ như đã nêu trên phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

2. Những hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền tác giả?

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được biểu hiện tùy theo đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Những hành vi bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định theo Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2019) bao gồm:

- Chiếm đoạt quyền tác giả ( đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học).

- Mạo danh, mạo nhận là tác giả. 

VD: Tác phẩm âm nhạc “Điều còn lại” trước đây có tên là “Điều em muốn nói” của tác giả Hoàng Thu Trang bị nghệ danh Mờ Naivie (Trần Hà My) mạo nhận là tác giả trên sóng truyền hình. 

- Công bố, phân phối tác phẩm không được sự cho phép của tác giả.

- Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả không được sự cho phép của đồng tác giả đó.

- Sửa, cắt xén hoặc xuyên tạc nội dung tác phẩm gây ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của tác giả.

- Sao chép tác phẩm mà không xin phép của tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định trong Luật này.

Ví dụ: Quán photocopy có hành vi photo giáo trình, tài liệu, sách tham khảo...để bán là hành vi bị coi là xâm phạm bản quyền tác giả đối với những tài liệu này.

- Làm tác phẩm phái sinh mà không xin phép của tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định khác.

- Sử dụng tác phẩm không xin phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền thù lao, nhuận bút, quyền lợi vật chất khác được quy định trong pháp luật pháp luật, trừ trường hợp quy định khác

- Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền thù lao, nhuận bút, và quyền lợi vật chất khác theo quy định cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả cũng được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

- Nhân bản, tạo bản sao, phân phối, trưng bày triển lãm hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu.

Ví dụ: Hành vi quay lén và tung nhiều trích đoạn lên mạng xã hội phim hài hành động “Lộ mặt” vào tháng 06/2018 khi không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả của bộ phim này lên mạng xã hội để lưu giữ hoặc chia sẻ cho người khác.

- Xuất bản tác phẩm khi không được sự cho phép của chủ sở hữu.

- Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

- Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

- Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập - xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

- Làm và bán tác phẩm với chữ ký giả của tác giả.

- Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao của tác phẩm mà không tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả không đồng ý.

3. Xâm phạm quyền tác giả trên internet bị phạt tiền hay phạt tù?

Tùy từng mức độ vi phạm mà cá nhân xâm phạm quyền tác giả trên Internet có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù. Cụ thể như sau:

* Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định tại Nghị định 131/2013/NĐ-CP; phạt tiền đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tác phẩm mà không nêu tên thật, bút danh tác giả, tên tác phẩm hoặc nêu không đúng tên thật hoặc bút danh tác giả, tên tác phẩm trên bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vận chuyển hàng hóa được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tàng trữ hàng hóa được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

* Chịu trách nhiệm hình sự khi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

- Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

+ Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình.

+  Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Có tổ chức.

+  Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên. 

+ Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề; hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Đặc biệt, đối với pháp nhân thương mại phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật xử phạt nghiêm ngặt đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, ngoài việc bị xử lý vi phạm hành chính; tùy theo mức độ vi phạm mà người có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan còn có thể bi phạt tù đến 03 năm và bị phạt tiền lên đến 1 tỷ đồng; đồng thời cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm. 

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề này. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ. Xin trân trọng cảm ơn!