1. Chủ thể có trách nhiệm ngăn chặn doanh nghiệp tẩu tán tài sản khi mở thủ tục phá sản
Theo điểm c khoản 1 Điều 16 của Luật Phá sản năm 2014, quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể như quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, được mô tả chi tiết như sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản:
- Quản lý tài sản và giám sát hoạt động kinh doanh: Xác minh và quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; Lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ; Bảo quản tài sản và ngăn chặn việc chuyển giao tài sản trái quy định pháp luật mà không được phép của Thẩm phán; Ngăn chặn việc tẩu tán tài sản và tối đa hóa giá trị tài sản khi thanh lý.
- Giám sát hoạt động kinh doanh: Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về phá sản. Điều này đặc trưng cho sự trách nhiệm của họ trong việc đảm bảo tuân thủ các quy định và quy trình liên quan đến phá sản, cũng như giữ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra theo các quy tắc và nguyên tắc của pháp luật.
- Có quyền thuê cá nhân, tổ chức để thực hiện công việc cụ thể liên quan đến quản lý, bảo quản, định giá, và thanh lý tài sản của doanh nghiệp trong quá trình phá sản. Nghĩa vụ của họ là đảm bảo rằng quá trình thuê được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về phá sản và các quy định liên quan.
- Đề xuất với thẩm phán về bán tài sản: Đề xuất với Thẩm phán về việc bán tài sản của doanh nghiệp để bảo đảm chi phí phá sản.
- Bán tài sản theo quyết định của thẩm phán: Việc bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán được thực hiện một cách minh bạch, công bằng và đảm bảo đủ nguồn lực để chi trả chi phí phá sản và các nghĩa vụ khác liên quan đến quá trình phá sản.
- Tổ chức định giá, thanh lý tài sản: Tổ chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật. Báo cáo cơ quan thi hành án dân sự và thông báo đến người tham gia thủ tục phá sản về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản.
- Gửi khoản tiền thu được vào tài khoản: Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng. Hành động này giúp đảm bảo tính minh bạch, an toàn và hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính thu được từ quá trình thi hành án.
Thứ hai, quyền đại diện cho doanh nghiệp: Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền đại diện cho doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp không có người đại diện theo pháp luật. Quyền đại diện này giúp đảm bảo rằng doanh nghiệp được đại diện một cách hiệu quả trong quá trình phá sản và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
Thứ ba, nghĩa vụ báo cáo và tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi: Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có nghĩa vụ báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp. Họ cũng tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Nghĩa vụ này giúp đảm bảo rằng quá trình phá sản được quản lý một cách có trách nhiệm và hỗ trợ quá trình phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Như vậy, người có trách nhiệm ngăn chặn doanh nghiệp tẩu tán tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản thuộc về các chủ thể có thẩm quyền, trong đó có Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Các chủ thể này đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và thực hiện các biện pháp phá sản một cách đúng đắn, tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
2. Mức phạt đối với doanh nghiệp tẩu tán tài sản khi mở thủ tục phá sản
Căn cứ theo quy định tại Điều 72 Nghị định 82/2020/NĐ-CP về hành vi vi phạm quy định về hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã khi đã có quyết định mở thủ tục phá sản, các hành vi vi phạm và biện pháp khắc phục được quy định như sau:
- Hành vi vi phạm quy định về hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã khi đã có quyết định mở thủ tục phá sản: Doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu có một trong những hành vi sau: Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại điểm c khoản 1 Điều 49 của Luật Phá sản 2014; Từ bỏ quyền đòi nợ; Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Doanh nghiệp vi phạm sẽ bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 của Điều 72 Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Điều này nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm và khắc phục mọi hậu quả do việc vi phạm quy định pháp luật gây ra.
- Mức phạt tiền đối với doanh nghiệp vi phạm: Theo quy định của khoản 4 và khoản 5 Điều 4 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm của tổ chức (doanh nghiệp) sẽ bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt tiền cụ thể được quy định tại các Điều 71 và 72 của Nghị định này. Việc áp dụng mức phạt này nhằm đảm bảo rằng sự vi phạm của tổ chức sẽ được xử lý nghiêm túc và sẽ đặt áp lực lớn hơn so với cá nhân.
Do đó, doanh nghiệp tẩu tán tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản sẽ phải đối mặt với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và cũng bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do thực hiện hành vi vi phạm quy định. Mức phạt được quy định nhằm đảm bảo tuân thủ và giữ gìn trật tự, tính công bằng trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản của doanh nghiệp và hợp tác xã.
3. Thẩm quyền trong xử phạt doanh nghiệp tẩu tán tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Theo điều 88, khoản 5 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ, về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, quy định rõ về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Tòa án các cấp như sau:
- Thẩm quyền của thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản và có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điều 66, 67, 69 và 71; khoản 1 Điều 73; các Điều 75, 76 và 77 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
- Thẩm quyền của Chánh án Tòa án cấp huyện: Chánh án Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điều 66, 67, 69 và 71; khoản 1 Điều 73; khoản 1 Điều 75; Điều 76 và Điều 77 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
- Thẩm quyền của Chánh án Tòa án cấp tỉnh: Chánh án Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điều 56, 57, 66, 67, 69, 71, 72, 73, 75, 76 và 77; điểm s khoản 2 và điểm s khoản 3 Điều 81 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
Từ đó, có thể kết luận rằng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản không có thẩm quyền xử phạt doanh nghiệp tẩu tán tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, theo quy định của điều 88, khoản 5 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Biện pháp khẩn cấp tạm thời có bao gồm việc ngăn chặn tẩu tán tài sản không?
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!