Định nghĩa Ân giảm

Tử hình là gì?

Tử hình được coi là hình phạt đặc biệt trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam. Là hình phạt nghiêm khắc nhất, tử hình chỉ được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và được thi hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ.

Trong tình hình phạm tội cụ thể hiện nay sự tồn tại hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt là cần thiết khách quan. Một mặt, hình phạt này thể hiện sự răn đe, có tính phòng ngừa; mặt khác, là phương tiện để có thể áp dụng cho những trường hợp phạm tội cụ thể phù hợp với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội và đáp ứng được yêu cầu của xã hội.

Xuất phát từ nguyên tắc nhãn đạo, luật hình sự Việt Nam không cho phép áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Cũng theo nguyên tắc nảy, bản án tử hình không được thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng. Hình phạt tử hình chỉ được thi hành khi Chủ tịch nước bác đơn ân giảm. Trong trường hợp được ân giảm, hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Đặc điểm của hình phạt tử hình :

Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

Tử hình là một trong những loại hình phạt trong bộ luật hình sự. Tuy nhiên khác với các loại hình phạt khác tử hình là một loại hình phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những đặc điểm riêng so với các loại hình phạt khác cụ thể như sau:

-Thứ nhất tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt.

- Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới từ phía người bị kết án một cách triệt để nhưng không có mục đích giáo dục người bị kết án vì đã tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ;

- Thứ ba, hình phạt tử hình có khả năng đạt được hiệu quả cao trong phòng ngừa chung;

- Thứ tư, hình phạt tử hình là hình phạt không có khả năng khắc phục khi bị quyết định sai.

Ân giảm là gì?

(Thẩm quyền của Chủ tịch nước) giảm hình phạt tử hình theo bản án đã có hiệu lực pháp luật xuống tù chung thân theo quy định của pháp luật, thể hiện chính Sách nhân đạo của nhà nước ta đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mở ra cho những người này khả năng ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội.

Trong luật hình sự Việt Nam thì trong thời hạn bảy ngày kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án tử hình được phép gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Sau đó chủ tịch nước xem xét về tội trạng của người phạm tội có thể ó khả năng ăn năn hối cải, cải tạo và giáo dục trở thành người có ích cho xã hội được hay không nếu thấy được ân giảm thì hình phạt tử hình được giảm xuống tù chung thân, nếu đơn xin ân giảm bị bác thì bản án tử hình được thi hành theo quy định của Luật Tố tụng hình sự.

Phân tích quy định của pháp luật về Ân giảm

Theo quy định của pháp luật (Điều 258 Bộ luật hình sự năm 2003) trong thời hạn bảy ngày kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Bản án tử hình chỉ được thi hành sau khi Chủ tịch nước có quyết định bác đơn xin ân giảm.

Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân (Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999).

Giảm mức hình phạt đã tuyên trong Bộ luật hình sự được quy định tại Điều 63 thì đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp người đủ 75 tuổi trở lên; người phạm tội hình sự và bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm hoặc lập công lớn của Bộ luật Hình sự thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là hai mươi lăm năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là ba mươi năm.

Theo như quy định của pháp luật hình sự thì việc tha tù trước thời hạn có điều kiện người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người đủ 75 tuổi trở lên; người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn của Bộ luật Hình sự tại Điều 66 quy định rất cụ thể.

Các trường hợp hoãn án tử hình

Theo đó, Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Điều 40. Tử hình ...

3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

- Có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

- Ngay trước khi thi hành án người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.

So với quy định hiện hành, Luật Thi hành án hình sự 2019 bổ sung thêm trường hợp người bị kết án tử hình nhưng được hoãn thi hành án gồm có:

- Người đủ 75 tuổi trở lên;

- Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Đồng thời bổ sung trường hợp "có lý do trở ngại khách quan" thì được hoãn thi hành án tử hình.

Khi quyết định hoãn thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thi hành án; họ, tên, chức vụ của thành viên Hội đồng; lý do hoãn thi hành án.

Biên bản hoãn thi hành án phải được tất cả các thành viên Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Phân biệt Đặc xá, Ân giảm, Giảm án, Đại xá

Tiêu chí

phân biệt

Đặc xá

Ân giảm

Giảm án

Đại xá

Khái niệm

Là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.

Là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định ân giảm đối với người phạm tội bị kết án tử hình xuống còn án chung thân.

Giảm án được hiểu là giảm thời hạn chấp hành hoặc hình thức chấp hành hình phạt.

Hiện nay chưa có khái niệm về đại xá; tuy nhiên dưới góc độ pháp luật có thể hiểu: Đại xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước nhằm tha tội hoàn toàn cho một số loại tội phạm nhất định đối với hàng loạt người phạm tội nhân sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước

Thẩm quyền

quyết định

Chủ tịch nước

Chủ tịch nước

Tòa án nhân dân có thẩm quyền

Quốc Hội

Đối tượng

áp dụng

- Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.

- Cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến hoạt động đặc xá

Người bị kết án tử hình có đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm

- Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân

- Trong trường hợp đặc biệt

Một loạt người phạm tội nhất định nào đó; một trong các biện pháp tha, miễn do pháp luật hình sự quy định căn cứ vào các giai giai đoạn tố tụng hình sự nếu người phạm tội thuộc đối tượng đại xá được ghi trong văn bản đại xá.

Điều kiện được nhận ân xá

Điều kiện được hưởng đặc xá được quy định tại Điều 4 Nghị định 52/2019/NĐ-CP, bao gồm 07 nhóm đối tượng:

1. Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt.
2. Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác

3. Đã thi hành được một phần nghĩa vụ tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại.
4. Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù.
5. Đang mắc bệnh hiểm nghèo quy định.
6. Đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân.
7. Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã

Tùy từng trường

- Người đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự (áp dụng đối với trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân)

- Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (trường hợp đặc biệt)

Đại xá được áp dụng vì lý do nhân đạo đối với những vi phạm không nhất định của những người phạm tội.

Thời điểm

áp dụng

- Nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước.

- Trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Nhà nước

Tùy từng trường hợp

Tùy từng trường hợp theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền

Do Quốc hội thảo luận và quyết định căn cứ vào thực tiễn chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại...của đất nước, nhân dịp có sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng của đất nước.

Cơ sở pháp lý

Luật đặc xá 2018; Nghị định 52/2019/NĐ-CP

Điều 367 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Điều 63, Điều 64 Bộ luật Hình sự 2015

Điều 70 Hiến pháp 2013 quy định về quyền đại xá của Quốc Hội; riêng chế định đại xá thì hiện nay chưa có VBPL nào quy định