1.Khái niệm

Sự ổn định và phát triển vững chắc về chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hoá, xã hội ở nông thôn, các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng hoạt động có hiệu quả, không để xảy ra các vụ việc phức tạp gây mất ổn định.

An ninh nông thôn có vị trí quan trọng góp phần ổn định chính trị, xã hội trong phạm vi cả nước. Bảo vệ an ninh nông thôn là một bộ phận quan trọng của công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bao gồm các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm hại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự vững mạnh của hệ thống chính trị: bảo vệ tài sản của Nhà nước; tính mạng, tài sản và quyền lợi hợp pháp của nhân dân, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.

2.An ninh nông thôn cần phải được quan tâm

Hiến pháp, pháp luật, luôn tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, những gì xảy ra tại xã Đồng Tâm thời gian qua đã để lại nhiều điều cần phải giải quyết, nhất là trong vấn đề đảm bảo an ninh ở nông thôn.

1. Khu vực nông thôn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn luôn là vấn đề chiến lược trong đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta. Với nền tảng là một quốc gia nông nghiệp, khu vực nông thôn chiếm phần lớn diện tích ở nước ta. Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã góp phần đặc biệt quan trọng vào sự phát triển của quốc gia. Mặc dù hiện nay, quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ nhưng nông thôn vẫn giữ vai trò quan trọng trong cả nước. Theo số liệu thống kê năm 2016, cả nước có 60,64 triệu người sống ở nông thôn, chiếm 65,4% dân số cả nước. Nông thôn là nơi tập trung nguồn lao động lớn, là thị trường tiêu thụ rộng lớn, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội. Địa bàn nông thôn nước ta có 54 dân tộc khác nhau, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần, mỗi biến động tích cực hay tiêu cực đều có tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị; xã hội, an ninh quốc phòng. Sự ổn định tình hình nông thôn sẽ góp phần quan trọng để đảm bảo tình hình ổn định của đất nước.

2. Tình hình an ninh, trật tự ở các vùng nông thôn Việt Nam có những diễn biến phức tạp. Thời gian gần đây, tình hình an ninh, trật tự tại các vùng nông thôn Việt Nam đang có những diễn biến phức tạp, nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài ở nhiều vùng nông thôn, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tình trạng mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân với một bộ phận cán bộ chính quyền. Cán bộ chính quyền cơ sở ở các vùng nông thôn vi phạm các quyền tự do dân chủ, làm sai chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có xu hướng gia tăng, khiến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, chính quyền giảm sút. Cùng với đó, tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội ở các vùng nông thôn cũng đang diễn biến phức tạp. Điều này đã và đang khiến tình hình an ninh, trật tự ở các vùng nông thôn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn các nguy cơ khó lường. Trong xã hội có giai cấp, thì những mâu thuẫn về lợi ích trong xã hội còn tại là một tất yếu. Đặc biệt, là ở nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ nền sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, thì nông thôn Việt Nam tồn tại các mâu thuẫn là điều không thể tránh khỏi, đây cũng chính là mầm mống đe dọa đến an ninh nông thôn hiện nay. Tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, nhất là tranh chấp, khiếu kiện về đất đai nếu không được giải quyết kịp thời ở các vùng nông thôn sẽ là nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn, xung đột khó lường. Trong thực tiễn chúng ta đã từng có nhiều nơi quần chúng “rào làng, lập ấp” chỉ vì không đồng tình với cách xử lý, giải quyết của chính quyền. “Rào làng kháng cự” vì mâu thuẫn của họ bị đẩy lên đến đỉnh điểm. Đó là sự kiện xảy ra ở Thái Bình và một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ năm 1997. Đó những bài học đã xảy ra ở Tiên Lãng, Hải Phòng; Văn Giang, Hưng Yên; Cẩm Giàng, Hải Dương… và gần đây là Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội.

Mỗi khi mâu thuẫn ở các vùng nông thôn không được giải quyết kịp thời và thỏa đáng, dẫn đến mâu thuẫn dồn nén, khi có thời cơ là sẽ bùng phát, thậm chí có nguy cơ trở thành bạo lực, xung đột. Là điều kiện để kẻ xấu triệt để lợi dụng nhằm kích động người dân, chống phá Nhà nước. Nó sẽ làm cho tình hình an ninh nông thôn trở nên phức tạp hơn. Sự việc ở Đồng Tâm gần đây là một minh chứng cho điều đó.

3. An ninh nông thôn cần phải được quan tâm trong thời gian tới. An ninh nông thôn là nền tảng của an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh nông thôn là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, và của cả các cấp, các ngành. Để an ninh nông thôn được giữ vững, chúng ta phải phát huy mối liên hệ mật thiết giữa chính quyền và người dân, tạo ra lòng tin của nhân dân vào với chính quyền.

3. Xây dựng lực lượng Công an xã

* Căn cứ pháp lý:

- Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trong đó, hoạt động của Công an xã có liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở cơ sở. Vì vậy, việc bố trí lực lượng Công an chính quy tại xã để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 nhằm vừa bảo đảm cho hoạt động giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở, vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thực hiện đúng quy định pháp luật;

- Luật Công an nhân dân hiện hành cũng đã khẳng định Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân với cơ cấu gồm lực lượng An ninh nhân dân, lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an xã. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng lực lượng Công an xã chính quy để bảo đảm sự thống nhất về tổ chức, hoạt động của Công an xã tương xứng với vị trí của Công an xã;

- Khoản 4, Điều 10 Pháp lệnh Công an xã quy định Bộ Công an bố trí Công an chính quy ở xã và thực tế Bộ Công an đã bố trí và thực hiện hiệu quả chủ trương bố trí Công an chính quy ở xã (từ năm 1989 đến nay);

- Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” cũng đã xác định nội dung bố trí lực lượng Công an xã chính quy;

- Những năm gần đây, Quốc hội đã thông qua nhiều luật mới như: Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Căn cước công dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Đặc xá, Luật Thi hành án hình sự, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ... trong đó, có bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn cho Công an xã. Do đó, việc xây dựng lực lượng Công an xã chính quy sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thi hành hệ thống pháp luật có liên quan đến an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở.

* Căn cứ thực tiễn:

- Tình hình an ninh nông thôn, đô thị tiềm ẩn nhiều vấn đề bất ổn, nhất là các vụ việc khiếu kiện, xung đột xã hội liên quan đến đất đai, quản lý, thu hồi đất để triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành, nảy sinh nhiều vấn đề mới đặt ra trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Quá trình đô thị hóa tăng nhanh, thu hồi đất, dẫn đến một bộ phận nhân dân không có việc làm, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, cá độ, cho vay nặng lãi, bảo kê.... là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm hình sự;

- Các loại tội phạm và vi phạm pháp luật có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp hơn, nhất là tội phạm có tổ chức, sử dụng vũ khí nóng, tội phạm có tính chất khủng bố, tội phạm chống người thi hành công vụ. Các loại tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp;

- Những diễn biến tình hình nêu trên nếu xảy ra đều sẽ bắt đầu từ địa bàn cơ sở, nếu không quyết liệt phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý, sẽ làm cho môi trường sống, môi trường đầu tư, đặc biệt là sự ổn định về chính trị, an ninh, trật tự và an sinh xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng;

- Việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn hiện nay chủ yếu do lực lượng Công an xã đảm nhiệm. Đây là địa bàn rộng lớn, chiếm 80% diện tích cả nước và là địa bàn đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, đặc biệt là tình hình an ninh nông thôn, dân tộc, tôn giáo, tình hình tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

- Tình hình nêu trên đặt trách nhiệm nặng nề hơn đối với lực lượng Công an xã, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa việc thực hiện nhiệm vụ cũng như bảo đảm các điều kiện hoạt động đối với lực lượng Công an xã để lực lượng này thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện chế độ, chính sách và bảo đảm các điều kiện hoạt động đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách còn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ mà lực lượng này đang thực hiện, đã có hàng ngàn Phó trưởng Công an xã và Công an viên đã xin nghỉ việc vì chế độ phụ cấp hàng tháng quá thấp, không bảo đảm điều kiện sinh hoạt của bản thân và gia đình;

- Theo hồ sơ dự án Luật cho thấy, trong nhiều năm qua, Chính phủ, Bộ Công an đã có nhiều mô hình bố trí lực lượng đảm bảo an ninh, trật tự ở địa bàn xã. Tuy nhiên, các mô hình này đều chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn xã. Kinh nghiệm qua sơ kết triển khai thực hiện bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã tại 828 xã ở 38 tỉnh, thành phố vừa qua cho thấy, tuy có một số hạn chế nhưng có thể khắc phục được và đây là mô hình có hiệu quả nhất; công tác tham mưu, quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn xã được nâng cao, góp phần ổn định tình hình và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương;

- Bố trí Công an xã chính quy thì khi đó đồng chí Trưởng Công an xã (có tiêu chuẩn cán bộ tương đương Trưởng Công an phường) nếu được cơ cấu tham gia Ban Thường vụ Đảng ủy xã (tương tự như đồng chí Trưởng Công an phường cơ cấu vào Ban Thường vụ Đảng ủy phường) sẽ bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với Công an xã, đồng thời, vị trí, vai trò của Công an xã được nâng lên (hiện Trưởng Công an xã là công chức cấp xã chỉ được cơ cấu tham gia Ban Chấp hành).

4.Nhiệm vụ, quyền hạn của công an xã, phường theo quy định hiện nay

Nhiệm vụ, quyền hạn của công an xã, phường được quy định tại Điều 9 Pháp lệnh công an xã 2008 và được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư 12/2010/TT-BCA. Cụ thể, công an xã, phường có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

1. Nắm tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã, đề xuất với cấp ủy Đảng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch, biện pháp đó.

Khoản 1 Điều 4 Nghị định 96/2016/NĐ-CP định nghĩa An ninh, trật tự là cách viết gọn của cụm từ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Theo đó, công an xã, phường có nhiệm vụ nắm tình hình an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên địa phương mình quản lý, từ đó, có biện pháp bảo đảm, chủ trương và kế hoạch cụ thể để đề xuất với cấp trên theo đúng quy định.

2. Làm nòng cốt xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo thẩm quyền.

Công an xã có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cùng cấp về chủ trương, kế hoạch, nội dung, hình thức, biện pháp phát động, duy trì và đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ an ninh Tổ quốc cho nhân dân; chăm lo xây dựng, củng cố và đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, giúp các tổ chức này hoạt động có hiệu quả và trở thành hạt nhân thúc đẩy phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên địa bàn xã.

3. Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã và tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý, giáo dục các đối tượng phải chấp hành hình phạt quản chế, cải tạo không giam giữ, người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo cư trú trên địa bàn xã; quản lý người được đặc xá, người sau cai nghiện ma túy và người chấp hành xong hình phạt tù thuộc diện phải tiếp tục quản lý theo quy định của pháp luật.

Bộ luật hình sự 2015 quy định về một số hình phạt như sau:

– Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

– Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

– Quản chế là một trong những hình phạt bổ sung được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 32 BLHS.

4. Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức và lực lượng khác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội theo quy định của pháp luật; bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ tính mạng, tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức trên địa bàn xã.

Công an xã có trách nhiệm chủ trì phối hợp với cơ quan, tổ chức và lực lượng khác trên địa bàn xã:

– Tham mưu, đề xuất với cấp ủy Đảng và Ủy ban nhân dân cùng cấp về nội dung, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật; phát động phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tổ chức thực hiện tốt các mặt công tác đó; kịp thời phát hiện, giải quyết và tham gia giải quyết tốt các mâu thuẫn mới nảy sinh trong quần chúng nhân dân, các hiện tượng tiêu cực dễ phát sinh tội phạm và vi phạm pháp luật khác; có kế hoạch xây dựng cơ sở quần chúng để nắm tình hình an ninh, trật tự; phát hiện, theo dõi những hiện tượng nghi vấn, những người có biểu hiện vi phạm pháp luật để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

– Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tuần tra, kiểm soát, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm tội, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác xảy ra trên địa bàn xã.

5. Thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú, chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại khác; quản lý vật liệu nổ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường; quản lý về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trên địa bàn xã theo phân cấp và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an.

6. Tiếp nhận, phân loại, xử lý các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; kiểm tra người, đồ vật, giấy tờ tùy thân, thu giữ vũ khí, hung khí của người có hành vi phạm tội quả tang; tổ chức cấp cứu nạn nhân, bảo vệ hiện trường và báo cáo; lập hồ sơ ban đầu, lấy lời khai người bị hại, người biết vụ việc, thu giữ, bảo quản vật chứng; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, thông tin thu thập được và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền.

Khoản 1 Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định “Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất”

Vậy tại sao lại quy định nhiệm vụ quyền hạn của công an xã phường trong lĩnh vực này? Có thể thấy mức độ nguy hiểm của người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang và việc kiểm tra và thu giữ hung khí của những đối tượng này là cần thiết. Các cán bộ công an xã, phường là người quản lý trực tiếp địa phương mình, do đó, có thể nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ này.

7. Tổ chức bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn xã; dẫn giải người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp.

Công an xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn xã. Trường hợp gặp khó khăn, vượt quá khả năng của Công an xã thì phải báo cáo ngay lên Công an cấp trên trực tiếp để có sự chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời.

Sau khi bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm hoặc tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, phải lập biên bản theo quy định và dẫn giải ngay đối tượng lên Công an cấp trên; trường hợp ban đêm hoặc đường xa, không thể dẫn giải ngay lên Công an cấp trên được thì phải tổ chức quản lý chặt chẽ người bị bắt tại trụ sở Công an xã hoặc trụ sở Ủy ban nhân dân xã và phải bố trí người canh gác, không để người bị bắt bỏ trốn hoặc tự sát.

Việc quản lý đối tượng nêu trên phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; trường hợp người bị bắt là đối tượng nguy hiểm thì được khóa tay, tước vũ khí, hung khí của đối tượng, đồng thời phải bằng mọi cách báo ngay với cơ quan Công an cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo kịp thời.

8. Xử phạt vi phạm hành chính; lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người vi phạm pháp luật trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an.

9. Được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã phối hợp hoạt động, cung cấp thông tin và thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Khoản 2 Điều 2 Luật Công an nhân dân định nghĩa “Bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội”. Đây là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của công an xã, phường nhằm quản lý địa phương mình.

10. Trong trường hợp cấp thiết, để cấp cứu người bị nạn, cứu hộ, cứu nạn, đuổi bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm, được huy động người, phương tiện của tổ chức, cá nhân và phải trả lại ngay phương tiện được huy động khi tình huống chấm dứt và báo cáo ngay với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Trường hợp có thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì được giải quyết theo chính sách của Nhà nước.

Trong trường hợp cấp thiết, để cấp cứu người bị nạn, cứu hộ, cứu nạn, đuổi bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm thì Trưởng Công an xã hoặc Phó trưởng Công an xã được Trưởng Công an xã ủy quyền được huy động người, phương tiện của tổ chức, cá nhân để thực hiện nhiệm vụ và phải trả lại ngay phương tiện đã huy động khi tình huống chấm dứt và phải báo cáo ngay với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp về việc huy động đó; người huy động phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Ủy ban nhân dân xã và trước pháp luật về việc huy động của mình.

11. Được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và thực hiện một số biện pháp công tác công an theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an để bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.

Khoản 1 và Khoản 11 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ định nghĩa như sau:

– Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.

– Công cụ hỗ trợ là phương tiện, động vật nghiệp vụ được sử dụng để thi hành công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhằm hạn chế, ngăn chặn người có hành vi vi phạm pháp luật chống trả, trốn chạy; bảo vệ người thi hành công vụ, người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hoặc báo hiệu khẩn cấp.

12. Tham gia thực hiện công tác tuyển sinh, tuyển dụng vào lực lượng vũ trang nhân dân; luyện tập, diễn tập thực hiện các phương án quốc phòng, an ninh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai và các sự cố nghiêm trọng khác.

Về lực lượng vũ trang nhân dân, Điều 23 Luật quốc phòng quy định Lực lượng vũ trang nhân dân gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

13. Xây dựng lực lượng Công an xã trong sạch, vững mạnh về chính trị, tổ chức và nghiệp vụ.

14. Ngoài ra, công an xã có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ khác về an ninh, trật tự, an toàn xã hội do cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cùng cấp và Công an cấp trên giao.Trường hợp nhiệm vụ được giao không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công an xã hoặc cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã có ý kiến chỉ đạo khác với ý kiến chỉ đạo của Công an cấp trên thì phải kiến nghị, đề xuất với cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã có sự điều chỉnh cho phù hợp; trường hợp cần thiết thì phải báo cáo Trưởng Công an cấp huyện để có sự phối hợp, chỉ đạo kịp thời, đúng pháp luật, bảo đảm sự thống nhất giữa cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã và Công an cấp trên.

5.Công an xã có trách nhiệm

– Tổ chức thực hiện công tác đăng ký, quản lý cư trú theo thẩm quyền; nắm tình hình hộ khẩu, nhân khẩu trên địa bàn xã; xây dựng kế hoạch kiểm tra cư trú; tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ giải quyết đăng ký tạm trú, thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng của công dân; nắm chắc và thực hiện chế độ báo cáo lên Công an cấp trên về tình hình, số lượng nhân khẩu là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang thực tế cư trú trên địa bàn; tiếp nhận, giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến đăng ký, quản lý cư trú.

– Nắm số người từ đủ 14 tuổi trở lên chưa được cấp giấy chứng minh nhân dân, các trường hợp hết hạn sử dụng hoặc mất giấy chứng minh nhân dân để lập danh sách, báo cáo đề xuất Trưởng Công an cấp huyện cấp, cấp lại giấy chứng minh nhân dân cho công dân..

– Thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, về bảo vệ môi trường;

– Nắm tình hình, số lượng các cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự trên địa bàn xã, lập danh sách, thống kê số lượng cơ sở và người làm việc tại các cơ sở kinh doanh đó.