(An: yên; phận: số phận; thủ: giữ; thường: bình thường, không có gì nổi trội).

An phận thủ thường có nghĩa là bằng lòng với số phận, với cuộc sống bình thường hiện tại, không muốn hoặc ngại sự đổi thay.

Ví dụ: "Đây là những mẫu người quá an phận thủ thường, tự lượng sức kém tài sơ, chỉ biết mưu đồ quyền lợi lặt vặt". (Chu Văn, Đất mặn).

"Có người lại cho rằng, mình chỉ là hạt cát giữa sa mạc, đóng góp của mình có đáng là bao, chi bằng cứ an phận thủ thường, hết ngày đầy công, cấp trên không chê, bạn bè không trách là được". (Báo Tiền phong 8-10-1980).

"Ở đây ta thấy nông dân không phải là an phận thủ thường, cam tâm làm nô lệ, mà họ luôn luôn vùng dậy đương đầu với địch". (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 1-1962).

“Bác Thiện là người thích an phận thủ thường, bác chỉ muốn sống sao cho yên ổn là được". (Hồng chương, Một luồng gió mới).

"Đức cha rất ngọt ngào, lễ độ, gạt bỏ những lời can ngăn hoặc ráo riết hoặc nhẹ nhàng của các vị linh mục mang tiếng là an phận thủ thường, những người mà trong thâm tâm cha chê là hèn, là dốt’. (Chu Văn, Bão biển).