- 1. Top 5+ bài văn mẫu kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7
- Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 1
- Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 2
- Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 3
- Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 4
- Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 5
- 2. Dàn ý bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7
1. Top 5+ bài văn mẫu kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7
Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 1
Nhân dịp Tết Nhâm Dần, tôi có cơ hội tham dự Hội xuân Yên Tử tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh – một trong những lễ hội mùa xuân lớn và kéo dài nhất cả nước. Lễ hội Xuân Yên Tử được tổ chức hằng năm, bắt đầu từ ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch và thường kéo dài suốt ba tháng. Vào thời điểm này, hàng nghìn phật tử và du khách từ khắp mọi miền đất nước nô nức hành hương về Yên Tử, dâng hương tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị vua anh minh đã từ bỏ ngai vàng để tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền đậm đà bản sắc Việt.
Tôi từng nhiều lần nghe kể về Yên Tử – “đất tổ của Phật giáo Việt Nam” – nhưng chỉ khi tận mắt chứng kiến mới cảm nhận hết được vẻ linh thiêng và hùng vĩ nơi đây. Ngay từ lúc đặt chân đến vườn tháp Huệ Quang, lòng tôi đã dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Giữa không gian mờ sương của núi rừng, 64 ngọn tháp cổ rêu phong xếp thành hàng uy nghi, bao quanh là bức tường đá rêu phủ, gợi cảm giác trầm mặc, linh thiêng. Nổi bật giữa sân là tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông được tạc bằng đá cẩm thạch, trong tư thế thiền định an nhiên. Ánh sáng buổi sớm chiếu nhẹ lên gương mặt thanh thoát của ngài, khiến không gian như lắng lại, tràn đầy sự thành kính.
Sau phần dâng hương, đoàn rước lễ trang nghiêm tiến lên chùa Hoa Yên – ngôi chùa cổ tọa lạc giữa lưng chừng núi, ẩn mình trong làn mây trắng. Tại đây, các vị sư thầy cùng lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh chủ trì lễ cầu quốc thái dân an, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, đất nước bình yên, nhân dân ấm no. Hàng ngàn người cùng hướng về lễ đài, tay cầm nén hương thơm, lặng lẽ khấn nguyện. Trong làn khói hương nghi ngút, âm vang tiếng chuông chùa ngân dài như hòa cùng tấm lòng thành kính của mọi người.
Khi nghi lễ kết thúc, du khách tản ra khắp nơi – người thong thả dạo bước giữa rừng trúc, người tiếp tục hành trình hành hương lên đỉnh chùa Đồng, nơi đặt pho tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông khổng lồ bằng đồng, uy nghi giữa mây trời. Đường lên đỉnh tuy gian nan nhưng ai cũng mang trong lòng niềm tin và lòng biết ơn sâu sắc với vị vua – vị Phật đã hiến trọn đời mình cho dân tộc và đạo pháp.
Ngày trở về, tôi vẫn còn vẹn nguyên cảm xúc thiêng liêng của buổi lễ. Hội xuân Yên Tử không chỉ là dịp để tưởng nhớ công lao to lớn của Phật hoàng Trần Nhân Tông mà còn là một nét đẹp văn hóa tâm linh, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt. Trải qua bao thế kỷ, lễ hội vẫn được duy trì và ngày càng thu hút đông đảo du khách, trở thành biểu tượng của lòng tôn kính, niềm tự hào và khát vọng hướng thiện trong mỗi con người Việt Nam.
(5).png)
Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 2
Lý Công Uẩn là một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử dân tộc, người làng Cổ Pháp, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xưa (nay thuộc phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn). Hiện nay, tại quê hương ông vẫn còn lưu giữ lăng và đền thờ các vị vua triều Lý – minh chứng cho một triều đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Tương truyền rằng mẹ ông – bà Phạm Thị – trong một lần đi lễ chùa Tiên Sơn đã nằm mộng thấy mình gặp thần nhân, sau đó mang thai và sinh ra Lý Công Uẩn. Từ nhỏ, ông đã tỏ ra khôi ngô, tuấn tú, thông minh hơn người. Khi mới lên ba, ông được sư Lý Khánh Vân – trụ trì chùa Cổ Pháp – nhận làm con nuôi, dạy dỗ cả chữ Nho, giáo lý nhà Phật lẫn võ nghệ. Nhờ được nuôi dưỡng trong môi trường tôn nghiêm ấy, Lý Công Uẩn sớm trở thành người vừa có học thức uyên thâm, vừa có tài năng quân sự xuất chúng.
Khi trưởng thành, ông gia nhập triều đình Tiền Lê và lập nhiều công lao hiển hách. Trong trận Chi Lăng năm 981, ông cùng quân sĩ lập chiến công vang dội, tiêu diệt tướng giặc Hầu Nhân Bảo, góp phần đánh tan quân Tống xâm lược. Sau đó, Lý Công Uẩn được thăng chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ – vị trí trọng yếu nắm toàn bộ binh quyền. Với đức độ và tài năng, ông được quần thần và tướng sĩ hết lòng kính trọng.
Năm 1005, vua Lê Đại Hành băng hà, ngôi báu truyền cho Lê Long Việt. Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau, Lê Long Đĩnh sát hại anh trai để chiếm ngôi. Triều Tiền Lê dần suy tàn dưới sự cai trị tàn bạo và hoang dâm của Lê Long Đĩnh – vị vua mà dân gian gọi là “Ngọa Triều” vì mắc bệnh không thể ngồi dậy khi thiết triều. Đến cuối năm 1009, vua Lê Long Đĩnh qua đời, đất nước rơi vào cảnh rối ren, lòng dân oán thán. Trong bối cảnh đó, triều thần và giới tăng lữ đồng lòng tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, mở đầu triều đại nhà Lý – một kỷ nguyên thịnh trị mới trong lịch sử dân tộc.
Mùa xuân năm 1010, Lý Công Uẩn chính thức lên ngôi, lấy niên hiệu là Lý Thái Tổ. Một trong những quyết định vĩ đại đầu tiên của ông là dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên thành Thăng Long – biểu tượng cho khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc. Dưới triều vua Lý Thái Tổ, đất nước thái bình, nhân dân no đủ, văn hóa – giáo dục được quan tâm, Phật giáo hưng thịnh, mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ của Đại Việt.
Nhà vua trị vì 19 năm, đến năm 1028 thì băng hà, hưởng thọ 55 tuổi. Dù đã đi xa, nhưng hình ảnh vị vua anh minh – người đặt nền móng cho triều đại nhà Lý huy hoàng – vẫn mãi khắc sâu trong lòng dân tộc. Lý Công Uẩn – Lý Thái Tổ – không chỉ là bậc minh quân mà còn là biểu tượng cho trí tuệ, nhân nghĩa và lòng yêu nước của con người Việt Nam.
Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 3
Tháng Tư năm nay, trường em tổ chức một chuyến đi ngoại khóa đặc biệt – hành trình về với Đền Hùng ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Từ lâu, em đã được nghe thầy cô kể về nơi đây – vùng đất thiêng liêng thờ phụng các Vua Hùng, những người có công dựng nên nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta. Bởi vậy, ngay khi nghe tin được đi tham quan, lòng em vô cùng háo hức và chờ đợi.
Sáng hôm ấy, trời trong xanh, gió nhẹ thổi mát rượi. Từ xa, ngọn núi Nghĩa Lĩnh hiện ra sừng sững giữa mây trắng, uy nghiêm và hùng vĩ như một chứng nhân của thời gian. Khi đặt chân đến chân núi, em không khỏi ngỡ ngàng trước khung cảnh linh thiêng: những hàng cây cổ thụ tỏa bóng mát, tiếng trống đồng vang vọng hòa cùng tiếng suối róc rách nghe như nhịp thở của núi rừng đất Tổ. Đền Hùng có ba ngôi chính – đền Hạ, đền Trung và đền Thượng – nằm nối tiếp nhau trên sườn núi. Thầy hướng dẫn kể rằng, đền Hạ là nơi mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng – khởi nguồn cho câu chuyện “con Rồng cháu Tiên” mà em từng đọc. Đền Trung là nơi các Vua Hùng từng họp bàn việc nước, còn đền Thượng là nơi thờ Hùng Vương thứ sáu – vị vua anh minh đã lãnh đạo nhân dân dựng xây đất nước.
Buổi lễ dâng hương được tổ chức trang nghiêm và xúc động. Trong làn khói hương nghi ngút, thầy hiệu trưởng thay mặt thầy cô và học sinh toàn trường đọc lời tưởng niệm các Vua Hùng. Âm vang tiếng trống đồng, tiếng nhạc lễ ngân vang khiến lòng em bỗng trào dâng niềm tự hào khó tả. Em cảm nhận rõ ràng công lao to lớn của cha ông – những người đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu để gây dựng nên giang sơn gấm vóc hôm nay. Em và các bạn cúi đầu thành kính, dâng lên những nén hương thơm – biểu tượng của lòng biết ơn sâu sắc.
Sau nghi lễ, chúng em bắt đầu chuyến tham quan các đền. Mỗi bậc đá dẫn lên đền Thượng đều in dấu bước chân hành hương của bao thế hệ. Bên đường là những tán cây trò, cây mỡ già nua tỏa bóng, rì rào trong gió như kể lại những câu chuyện ngàn xưa. Em dừng lại thật lâu trước tấm bia đá ở đền Hạ, nơi khắc dòng chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.”
Lời dặn giản dị mà thiêng liêng ấy khiến em thấy tim mình ấm lại. Em hiểu rằng thế hệ hôm nay phải tiếp nối truyền thống, giữ gìn và phát triển đất nước mà tổ tiên đã khó nhọc gây dựng.
Trên đường xuống núi, em ngoái lại nhìn Đền Hùng ẩn hiện trong sương sớm. Dưới ánh nắng nhẹ, đoàn rước kiệu với cờ hoa rực rỡ uốn lượn quanh những bậc đá, hòa cùng tiếng trống đồng rộn rã. Cảnh tượng ấy vừa trang nghiêm, vừa gần gũi – như một khúc nhạc thiêng ca ngợi nguồn cội dân tộc.
Chuyến đi chỉ kéo dài trong buổi sáng, nhưng để lại trong em bao cảm xúc sâu sắc. Em nhận ra rằng, lòng biết ơn tổ tiên không chỉ thể hiện bằng lời nói, mà còn bằng hành động: học tập tốt, sống xứng đáng và góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước. Bài học về “uống nước nhớ nguồn” hôm ấy sẽ mãi là hành trang quý giá theo em suốt những năm tháng sau này.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba.”
Mỗi khi nghe câu ca ấy vang lên, em lại nhớ về chuyến đi ý nghĩa đến Đền Hùng – nơi bắt đầu của lịch sử, của lòng tự hào và của dòng máu Lạc Hồng đang chảy trong tim mỗi người Việt Nam.
Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 4
Có một chân lý giản dị nhưng sâu sắc mà bao thế hệ con người vẫn luôn khắc ghi: nếu quên đi quá khứ, ta sẽ không thể có hiện tại và tương lai. Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông ta chính là lời nhắc nhở thiêng liêng về đạo lý ấy. Và để tưởng nhớ công lao dựng nước của tổ tiên, hằng năm, nhân dân cả nước lại hướng về lễ hội Đền Hùng – một biểu tượng văn hóa, tâm linh mang ý nghĩa trường tồn cùng dân tộc.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.”
Câu ca ấy đã đi vào tiềm thức của mỗi người Việt như một lời nhắc ân tình về ngày Giỗ Tổ Hùng Vương – mùng 10 tháng 3 âm lịch, ngày lễ trọng đại của dân tộc. Tôi vẫn còn nhớ rõ cảm xúc thiêng liêng khi có dịp hành hương về đất Tổ Phú Thọ, nơi khởi nguồn của dân tộc Việt. Trên từng bậc đá dẫn lên đền Thượng, trong làn khói hương nghi ngút, lòng tôi dâng trào niềm tự hào xen lẫn xúc động khi nghe kể về các Vua Hùng – những người đã có công dựng nước Văn Lang đầu tiên.
Lễ hội Đền Hùng không chỉ là dịp để con cháu khắp mọi miền đất nước cùng hướng về cội nguồn, mà còn là minh chứng cho tinh thần “đoàn kết – tri ân – hướng về quá khứ” của dân tộc ta. Vào ngày này, dù ở trong nước hay xa xứ, người Việt Nam ở khắp nơi đều cùng một lòng tưởng nhớ Tổ tiên, dâng nén hương thơm cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống yên vui. Chính bởi giá trị lịch sử, văn hóa và tinh thần sâu sắc ấy mà Giỗ Tổ Hùng Vương đã được công nhận là ngày Quốc lễ của Việt Nam.
Lễ hội gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ mở đầu bằng Lễ rước kiệu từ các đền, chùa dưới chân núi Nghĩa Lĩnh lên đền Thượng – nơi thờ các Vua Hùng. Tại đây, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng đồng bào cả nước thành kính dâng hương tưởng niệm. Không khí trang nghiêm, tiếng trống, tiếng chiêng hòa cùng làn hương lan tỏa tạo nên một không gian linh thiêng, thi vị.
Sau phần lễ là phần hội, nơi người dân được hòa mình vào không khí vui tươi, rộn ràng của các hoạt động văn hóa dân gian như đấu vật, chọi gà, rước kiệu, đánh cờ người, cùng các chương trình biểu diễn hát xoan, hát chèo, hát quan họ. Tiếng trống hội vang vọng, tiếng hát dân ca ngân nga khiến cả không gian như sống lại cùng nhịp đập của truyền thống ngàn đời. Mỗi tiết mục, mỗi làn điệu đều gửi gắm lòng biết ơn sâu sắc với tổ tiên – những người đã gây dựng nên giang sơn gấm vóc hôm nay.
Người đến trẩy hội không chỉ để thưởng ngoạn cảnh đẹp hay xem lễ nghi long trọng, mà quan trọng hơn là để bày tỏ lòng thành kính, tri ân với cội nguồn dân tộc. Đứng giữa non thiêng Nghĩa Lĩnh, ai cũng cảm nhận được sự thiêng liêng
Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7 - Mẫu số 5
Đất nước Việt Nam hôm nay được sống trong hòa bình, độc lập là nhờ biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống, hi sinh cả tuổi xuân và máu xương để bảo vệ Tổ quốc. Trong những người anh hùng tuổi nhỏ mà tên tuổi đã đi vào lịch sử, em luôn kính phục nhất là anh Kim Đồng – người đội viên Nhi đồng cứu quốc đầu tiên của Việt Nam.
Anh Kim Đồng, tên thật là Nông Văn Dền, sinh ra trong một gia đình người Tày ở Cao Bằng. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ – một người phụ nữ hiền hậu, tảo tần nhưng sức khỏe yếu. Từ nhỏ, anh đã sớm hiểu cảnh khổ cực của quê hương trong những năm tháng giặc Pháp đô hộ. Trong ánh mắt cậu bé ấy đã sớm nhen lên ngọn lửa căm thù giặc và tình yêu tha thiết với Tổ quốc.
Tuy tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn nhanh nhẹn, dũng cảm và có tinh thần trách nhiệm cao. Khi được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho Việt Minh, anh luôn hoàn thành xuất sắc mọi công việc – dù đó là đưa thư, canh gác hay dẫn đường cho cán bộ cách mạng. Những con đường rừng hiểm trở, những đêm tối mịt mùng nơi bản làng biên giới đều in dấu chân của cậu bé đội viên nhỏ tuổi. Với sự thông minh, lanh lợi và gan dạ, anh trở thành niềm tin của đồng đội, được bầu làm Đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc.
Một buổi sáng mùa đông năm 1943, trong khi đang làm nhiệm vụ canh gác cho các anh Việt Minh họp bí mật, Kim Đồng phát hiện lính Pháp phục kích. Anh nhanh trí đánh lạc hướng, chạy đi để báo tin cho các anh kịp rút lui. Nhưng không may, viên đạn của kẻ thù đã bắn trúng anh. Anh ngã xuống giữa núi rừng Cao Bằng khi mới tròn mười bốn tuổi, mang theo khát vọng độc lập và tình yêu nước nồng nàn của một thiếu niên nhỏ tuổi.
Câu chuyện về anh Kim Đồng khiến em vô cùng xúc động. Dù chỉ sống ngắn ngủi, anh đã để lại tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, tinh thần hi sinh và tình yêu quê hương đất nước. Hình ảnh cậu bé người Tày gan dạ năm nào vẫn luôn sống mãi trong trái tim em – như ngọn lửa nhỏ thắp sáng ý chí của bao thế hệ thiếu niên Việt Nam hôm nay. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với sự hi sinh của anh và của biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
2. Dàn ý bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử lớp 7

Một bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật lịch sử cần có bố cục ba phần rõ ràng, đảm bảo mạch kể tự nhiên, kết hợp hợp lý giữa kể, tả và bộc lộ cảm xúc cá nhân. Dàn ý cụ thể như sau:
A. Mở bài
- Giới thiệu nhân vật lịch sử và sự việc có thật mà người viết định kể lại.
- Nêu hoàn cảnh, lý do người viết biết đến hoặc lựa chọn câu chuyện này (qua một bài học lịch sử, một chuyến tham quan, một cuốn sách hay câu chuyện được nghe kể lại).
- Gợi cảm xúc ban đầu hoặc ấn tượng sâu sắc của người viết về nhân vật, tạo tiền đề cho phần kể chuyện phía sau.
Ví dụ:
Trong chuyến tham quan khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, tôi được nghe kể về câu chuyện cảm động của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – người đã gác lại thù nhà để lo việc nước. Câu chuyện ấy khiến tôi vô cùng khâm phục và suy nghĩ mãi không quên.
B. Thân bài
- Gợi lại bối cảnh lịch sử:
- Nêu ngắn gọn hoàn cảnh, thời điểm diễn ra sự việc.
- Giúp người đọc hiểu được tình hình đất nước, xã hội hoặc tình huống gắn liền với nhân vật.
- Có thể kết hợp yếu tố miêu tả để làm nổi bật không khí lịch sử (âm vang trận chiến, cảnh sinh hoạt trong triều, hay tâm thế nhân dân trong giai đoạn ấy).
Ví dụ:
Đó là thời kỳ nước ta đang đứng trước nguy cơ bị quân Nguyên – Mông xâm lược. Cả dân tộc căng mình chuẩn bị cho cuộc kháng chiến quyết liệt bảo vệ non sông gấm vóc.
- Thuật lại diễn biến sự việc:
- Kể lại một sự kiện cụ thể gắn liền với nhân vật đã chọn, theo trình tự thời gian rõ ràng (bắt đầu – cao trào – kết thúc).
- Chú ý xen lồng các chi tiết miêu tả về nhân vật, cảnh vật, không khí để câu chuyện sinh động, có sức truyền cảm.
- Có thể đưa thêm lời nói, hành động hoặc suy nghĩ của nhân vật nhằm thể hiện tính cách, phẩm chất của họ.
- Khi kể, cần giữ đúng sự thật lịch sử, tuyệt đối không bịa đặt hoặc thêm thắt chi tiết làm sai lệch bản chất của sự kiện.
Ví dụ:
Khi nghe lời trăng trối của cha, Trần Quốc Tuấn mang trong lòng nỗi giằng xé dữ dội. Ông hiểu nỗi đau của cha nhưng cũng thấy rõ vận mệnh của đất nước đang bị đe dọa. Sau cuộc trò chuyện với hai gia nô trung thành là Dã Tượng và Yết Kiêu, ông đã dứt khoát chọn con đường trung nghĩa, quyết tâm cùng vua Trần đánh giặc cứu nước.
- Nêu ý nghĩa và giá trị của sự việc:
- Làm rõ phẩm chất, tinh thần cao đẹp mà nhân vật thể hiện qua sự việc.
- Chỉ ra tầm quan trọng của sự kiện đối với lịch sử dân tộc.
- Nêu cảm nhận, suy nghĩ và bài học mà người viết rút ra từ câu chuyện.
.png)
Ví dụ:
Câu chuyện ấy giúp tôi hiểu rằng lòng trung nghĩa và tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên thù riêng chính là phẩm chất của một bậc anh hùng thật sự. Nếu không có những con người như Trần Quốc Tuấn, đất nước ta đã không có được những trang sử hào hùng như hôm nay.
C. Kết bài
- Khẳng định lại tầm vóc, công lao hoặc đức tính đáng kính của nhân vật lịch sử.
- Bày tỏ cảm xúc chân thành, niềm tự hào, sự biết ơn, và bài học quý báu mà bản thân rút ra.
- Có thể kết thúc bằng một câu suy ngẫm, lời hứa hoặc liên hệ với thế hệ trẻ hôm nay.
Ví dụ:
Mỗi khi nhớ lại câu chuyện ấy, tôi càng thêm khâm phục Hưng Đạo Đại Vương – vị tướng tài ba, người con trung hiếu vẹn toàn của dân tộc. Câu chuyện về ông dạy tôi biết sống nhân nghĩa, đặt lợi ích chung lên trên tất cả, để góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh hơn.