1.  Bản chất pháp lý, căn cứ & những điều kiện áp dụng chế định thời hiệu thi hành bản án. 

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do BLHS năm 2015 quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.
Đặc điểm thời hiệu

- Là thời hạn do Bộ luật hình sự qui định, nghĩa là việc thi hành bản án phải được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, có điểm bắt đầu và có điểm kết thúc. Nó bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và kết thúc khi hết một khoảng thời hạn luật định.

- Hậu quả pháp lý của việc không thi hành bản án trong thời hạn do luật định: Khi kết thúc thời hạn mà bản án đã tuyên, có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không được thi hành thì đương nhiên những đối tượng bị kết án sẽ không phải thi hành bản án đó nữa.

Căn cứ pháp lý : kể từ ngày bản án hình sự có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án nhất thiết phải qua một thời hạn nhất định và thời hạn ấy phải do BLHS năm 2015 quy định 
Ba điều kiện cần, đủ là: 
Điều kiện thứ nhất – một trong các thời hạn đã qua ấy phải tương ứng với một trong các loại hình phạt và mức hình phạt được BLHS quy định cụ thể 

"2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:

a) 05 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống;

b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm;

c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm;

d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình."

 Điều kiện thứ hai – trong khoảng thời gian đã qua ấy, người bị kết án phải không được phạm tội mới và không kể là hình phạt ấy có phải là tù hay không 
 Điều kiện thứ ba – trong khoảng thời gian đã qua ấy, người bị kết án không cố tình trốn tránh (hoặc mặc dù họ cố tình trốn tránh) và đối với người bị kết án đó phải không có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền
Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười 5 năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm.
Khi hình phạt chính đã hết thời hiệu thì hình phạt bổ sung không thi hành nữa.
Đối với các hình phạt bổ sung là quản chế hoặc cấm cư trú thì thời hạn thi hành kể từ ngày thi hành xong hình phạt tù.
Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội chống loài người và tội phạm chiến tranh.

2. Bản chất pháp lý, căn cứ & những điều kiện áp dụng chế định chấp hành hình phạt

Chấp hành hình phạt là việc (Người bị kết án) thực hiện các nghĩa vụ thuộc về nội dung của hình phạt được áp dụng đối với họ theo bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án.

Bản chất pháp lí : Chấp hành hình phạt là chế định của bộ luật hình sự trong đó người phạm tội phải thực hiện đấy đủ hình phạt chính tương ứng với loại tội đó và một hoặc một số hình phạt bổ sung khác(nếu có) theo quyết định của bản án mà tòa án đã tuyên. 
Căn cứ áp dụng:
+ Do Bộ luật hình sự quy định 
+ Do tòa án quyết định 
Điều kiện áp dụng: Người bị áp dụng phải có hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS năm 2015  mà không nằm trong trường hợp được quy định tại Điều 62 hoặc Điều 63 của BLHS năm 2015 về miễn hình phạt và miễn chấp hành hình phạt.

3. Bản chất pháp lý, căn cứ & những điều kiện áp dụng chế định giảm thời hạn mức hình phạt đã được tuyên.

Bản chất pháp lý: Tòa án quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho người bị kết án đã chấp hành hình phạt đó được một thời gian nhất định (đối với phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn) hoặc miễn phần hình phạt còn lại (đối với hình phạt tiền) khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện được quy định trong PLHS. 

Căn cứ và những điều kiện được quy định tương ứng trong năm trường hợp của BLHS năm 2015 (tại Điều 62, Điều 63,Điều 64 dưới đây):

- Trường hợp 1 - giảm mức hình phạt đã được tuyên: 

a) bị kết án cải tạo không giam giữ; 

b) nếu người bị kết án đã CHHP đó được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ; 

c) theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giáo dục, giám sát người CHHP 

- Trường hợp 2 - giảm mức hình phạt đã được tuyên: 

a) bị kết án tù có thời hạn; 

b) nếu người bị kết án đã CHHP đó được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ; 

c) theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù 

- Trường hợp 3 - miễn chấp hành phần còn lại của hình phạt đã được tuyên: 

a) bị xử phạt tiền; 

b) người bị kết án đã chấp hành được một phần hình phạt đó; 

c) bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hay bệnh tật gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn; 

d) theo đề nghị của Viện trưởng VKS 

- Trường hợp 4 – có tính chất đặc biệt: Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 58 khi người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như: đã lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (Điều 59). 

- Trường hợp 5 – được quy định đối với người chưa thành niên bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc phạt tiền : 

a) Có nhiều tiến bộ và đã chấp hành được1/4 thời hạn của hình phạt đã được tuyên, thì được Tòa án xét giảm  

b) Lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được Tòa án xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại ;

c) Tòa án có thể quyết định giảm hoặc miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại .

4. Bản chất pháp lí,căn cứ áp dụng,điều kiện áp dụng của chế định giảm thời hạn CHHP trong trường hợp đặc biệt

- Bản chất pháp lí:
Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt là chế định quy định trường hợp người bị kết án có lí do đáng được khoan hồng thêm so với những quy định được quy định tại Đ64 BLHS năm 2015. Vì vậy tòa án có thể xem xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian quy định ở điều luật này.
- Căn cứ áp dụng:
+ Do BLHS quy định
+ Do tòa án quy định
- Điều kiện áp dụng:
+ Người bị kết án đã lập công như tố cáo, giúp trại cải tạo hoặc cơ quan điều tra phát hiện tội phạm ,có sáng kiến hoặc cải tiến kĩ thuật có giá trị trong sản xuất ,cứu được tính mạng của người khác trong tình trạng hiểm nghèo , cứu được tài sản của nhà nước , của tập thể hoặc của công dân khi có thiên tai xảy ra.
+ Người bị kết án đã quá già yếu hoặc đang mắc bệnh hiểm nghèo .Người qua già yếu là người đã 70 tuổi hoặc trên 60 tuổi mà thường xuyên ốm yếu .Mác bệnh hiểm nghèo à mắc những bệnh rất nguy hiểm đến tính mạng như lao nặng, ung thư, bại liệt,….

5. Bản chất pháp lí,căn cứ áp dụng.điều kiện áp dụng của chế định án treo

- Bản chất pháp lí:
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện khi tòa án xét thấy có những lí do đáng được khoan hồng dành cho tội nhân.
- Căn cứ áp dụng:
+ Do BLHS quy định
+ Do tòa án quyết định
- Điều kiện áp dụng:
+ Về mức hình phạt tù: chỉ những người bị xử phạt tù không quá 3 năm
+ Về nhân thân người phạm tội: nhân thân tương đối tốt ,phải là người chấp hành đúng chính sách pháp luật nhà nước ,thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bản thân, chưa có tiền án tiền sử, lần đầu phạm tội. Sau khi phạm tội đã ăn năn,hối cải và thành khẩn nhận tội hoặc đó là người bị rủ rê, lừa phỉnh, ép buộc,………….
+ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ: có hai tình tiết giảm nhẹ trong đó  phải có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điều 51 BLHS
+ Là trường hợp không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù giam
Tòa án cần phải xem xét ,tổng hợp tất cả 3 điều kiện trên để quyết định buộc người bị kết án phải chấp hành phạt tù không hay cho họ hưởng án treo để đảm bảo việc áp dụng án treo đối với người bị kết án có căn cứ ,đúng pháp luật và dư luận đồng ý.

6. Bản chất pháp lý, căn cứ và những điều kiện áp dụng chế định hoãn CHHP tù

- Khái niệm: Hoãn chấp hành hình phạt tù là chuyển việc thi hành hình phạt tù sang thời điểm muộn hơn. 

- Bản chất pháp lý: Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Chế định này được áp dụng trong những trường hợp người bị kết án bị bệnh nặng, là phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, là người lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công tác.

 - Căn cứ và điều kiện áp dụng:

  Điều 67 BLHS năm 2015 quy định cụ thể như sau:

+ Đối với người bị xử phạt tù mà bị bệnh nặng có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi được bình phục.

+ Người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng thì được hoãn chấp hành hình phạt cho đến khi con đủ 36 tháng.

+ Đối với người bị kết án tù không phải về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, thì được hoãn đến một năm.

+ Người bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến một năm.

Tuy nhiên, nếu người bị kết án tù được tòa án cho hoãn chấp hành hình phạt lại phạm tội mới trong thời gian được hoãn thì Tòa án buộc họ phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật này .

7. Bản chất pháp lý, căn cứ và những điều kiện áp dụng chế định tạm đình chỉ CHHP tù

- Khái niệm: Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là tạm ngừng việc đang chấp hành hình phạt tù trong khoảng thời gian nhất định.
- Bản chất pháp lý: Thể hiện nguyên tắc nhân đạo của BLHS Việt Nam
- Căn cứ và những điều kiện để áp dụng:
Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp có thể được hoãn chấp hành hình phạt theo khoản 1 Điều 67 thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt. Nhưng thời gian tạm đình chỉ không được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
 

8. Bản chất pháp lý, căn cứ và những điều kiện áp dụng chế định xóa án tích.

 Bản chất pháp lý: Thể hiện tính nhân đạo của chính sách hình sự của Nhà nước ta. Chế định xóa án khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội.
 Căn cứ và điều kiện áp dụng: Điều 69 đến Điều 73 BLHS năm 2015 quy định
a. Đương nhiên được xóa án tích
- Người được miễn hình phạt
- Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
   + 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
   + 03 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 03 năm;
   + 05 năm trrong trường hợp hình phạt là tù từ trên 03 năm đến 15 năm;
   + 07 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 15 năm.
b. Xóa án tích théo quyết định của Tòa án
c. Xóa án trong trường hợp đặc biệt.
Để xóa án tích trong trường hợp đặc biệt người bị kết án phải có đầy đủ 4 điều kiện sau:
Có những tiến bộ rõ rệt ( sau khi chấp hành bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người bị kết án đã hòa nhập vào cuộc sống xã hội, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội….)
Đã lập công ( có thành tích xuất sắc trong lao động, chiến đấu, công tác được cơ quan tổ chức có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận)
Được cơ quan tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị.
Đã đủ 1/3 thời hạn quy định tại  Điều 70, 71 kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Công ty luật Minh Khuê (biên tập)