Bản chất, vai trò và nguyên tắc cơ bản của bầu cử trong đời sống chính trị hiện đạiBầu cử luôn gắn liền với dân chủ và quyền lực nhà nước - là những vấn đề lớn của đời sống chính trị. Người dân thông qua lá phiếu bầu để thể hiện quyền làm chủ của mình. Bầu cử là một yếu tố để xác định tính dân chủ của một quốc gia

1. Khái niệm bầu cử

Bầu cử là một phương pháp thành lập ra bộ máy Nhà nước. Thông qua bầu cử nhân dân trực tiếp lựa chọn những cá nhân có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan đại diện của nhân dân.

Bầu cử là cách thức được hầu hết quốc gia trên thế giới hiện nay sử dụng để thiết lập lên cơ quan lập pháp và cơ quan đại diện của chính quyền địa phương

Có nhiều định nghĩa về bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ chung nhất có thể hiểu: bầu cử là một quy trình chính trị - pháp lý, trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn những người vào làm việc trong bộ máy Nhà nước để thay  mặt mình quản lý xã hội.

Từ góc độ chính trị học, bầu cử chính là một phương thức mà qua đó người dân thực hiện quyền lực nhà nước (hay chủ quyền tối cao) của mình. Đó là bởi thông qua bầu cử, người dân có thể đưa ra quyết định lựa chọn và ủy quyền cho một số cá nhân thay mặt mình quản lý xã hội. Đây là cách thức dân chủ nhất, và hiện được xem là duy nhất để hình thành bộ máy nhà nước của một quốc gia, do đó, bầu cử mang ý nghĩa pháp lý và xã hội đặc biệt quan trọng. Trong khi tự do thông tin được xem là “ô-xi của dân chủ”, thì bầu cử được xem là “chìa khóa của dân chủ”.

2. Bản chất, vai trò của bầu cử

a. Bản chất của bầu cử

Bầu cử là biểu hiện cao nhất của dân chủ, vì bầu cử đúng nghĩa chỉ có thể  xuất hiện trong một xã hội dân chủ khi mà mọi người dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật và có khả năng thực thi quyền bình đẳng đó.

b.Vai trò của bầu cử

  • Hiện thực hóa quyền làm chủ (chủ quyền) của nhân dân trong xã hội, thông qua việc bảo đảm cho  nhân dân có thể lựa chọn người xứng đáng để đại diện cho mình quản lý mọi vấn đề của xã hội. Trong một nhà nước dân chủ, khi công dân đáp ứng các yêu cầu cần thiết về độ tuổi và tư cách thì đều có quyền bầu cử

Theo quy định tại Điều 27 Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định:

“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”

Như vậy, một công dân Việt Nam khi đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực dân sự và hành vi dân sự  đều được đề cử, ứng cử và/hoặc bỏ phiếu để bầu chọn cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử

  • Hợp pháp hóa mối quan hệ chính trị giữa các chủ thể quyền lực và đối tượng thực thi quyền lực, giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý

Bầu cử là cách thức lựa chọn những người thực thi quyền lực nhà nước thông qua bỏ phiếu phổ thông theo các thủ tục quy định trong hiến pháp và pháp luật, trong đó mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền tham gia, vì thế quyền lực của những người được lựa chọn có tính hợp pháp, từ đó tạo cơ sở cho sự ổn định của bộ máy chính quyền. Chỉ khi một chính quyền được thiết lập nên bởi bầu cử thực chất, chính quyền đó mới được người dân trong nước và cộng đồng quốc tế công nhận, từ đó mới có thể tồn tại, hoạt động ổn định, lâu dài.

  • Thúc đấy, giữ gìn nền dân chủ

Theo UNESCO, với một nền dân chủ thì cần có:

+ Các quyền tự do và cơ bản của con người;

+ Các cuộc bầu cử tự do và công bằng;

+ Chính quyền công khai và chịu trách nhiệm giải trình;

+ Có sự hiện hữu của một xã hội công dân.

Thông qua bầu cử, công dân được thực hiện các quyền: bỏ phiếu, ứng cử, vận động tranh cử, quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp...

Như vậy, bầu cử vừa là một yếu tố vừa tác động đến các yếu tố khác để tạo nên một nền dân chủ. Thông qua việc tham gia vào quá trình bầu cử, công dân được nâng cao hiểu biết,  trách nhiệm của mình với xã hội, với cộng đồng; tạo lập và kết nối các nhóm các tổ chức xã hội cùng tham gia vào quản trị quốc gia... Như vậy, bầu cử tạo điều kiện để người dân tạo dựng và kiếm soát bộ máy nhà nước hoạt động theo các tiêu chuẩn pháp quyền và dân chủ

  • Tạo ra một hình thức quyền làm chủ mới – dân chủ đại diện

3 . Nguyên tắc cơ bản của bầu cử

a. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu

Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử có nội dung nhằm bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp,... đều có quyền tham gia bầu cử theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử

Tuy nhiên, nguyên tắc này không có tính tuyệt đối. Quyền bầu cử vẫn có thể bị giới hạn với các cá nhân dựa trên các yếu tố về độ tuổi, quốc tịch hay năng lực hành vi.

- Về quốc tịch, ở các quốc gia quyền bầu cử thường dành riêng cho công dân nước mình và không áp dụng cho người nước ngoài.

- Về độ tuổi: độ tuổi bầu cử thường bắt đầu từ khi công dân đủ 18 tuổi

- Về năng lực hành vi: đa số các quốc gia trên thế giới đều quy định những người không có quyền bầu cử là người bị tâm thần ( người bị mất năng lực hành vi dân sự) và người đang chấp hành hình phạt tù (người bị hạn chế quyền công dân)

b. Nguyên tắc bình đẳng

Bình đẳng trong bầu cử là một nguyên tắc nhằm bảo đảm tính khách quan, không thiên vị để mọi công dân đều có khả năng tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới mọi hình thức nào.

Theo nguyên tắc này, trong mỗi cuộc bầu cử, mỗi cử tri có một phiếu bầu và các lá phiếu có giá trị ngang nhau; không phân biệt dân tộc, tầng lớp, giai cấp, nghề nghiệp, quan điểm chính trị, hoàn cảnh gia đình, tín ngưỡng, trình độ giáo dục...của người bỏ phiếu.

Nguyên tắc bình đẳng này còn đòi hỏi cần có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử vào quốc hội/ nghị viện và các cơ quan quyền lực khác để đảm bảo tính đại diện hợp lý của các giai cấp, tầng lớp và nhóm trong xã hội

c. Nguyên tắc tự do

Ở đa số các quốc gia trên thế giới, cử tri có quyền lựa chọn đi bầu cử hay là không. Nguyên tắc tự do này quy định rằng cử tri có quyền tự quyết định tham gia hoặc không tham gia bầu cử; không ai có quyền gây ảnh hưởng hay bắt buộc công dân phải tham gia bầu cử, cũng không có công dân nào có thể bị trừng phạt vì không bầu cử. Nguyên tắc này có thể được pháp luật quốc gia quy định hoặc mặc nhiên thừa nhận.

Tuy nhiên, nguyên tắc bầu cử tự do có ảnh hưởng nhất định tới kết quả của cuộc bầu cử, khi mà cử tri từ chối tham gia bỏ phiếu quá nhiều có thể dẫn tới thất bại của cuộc tuyển cử.Ở hầu hết các quốc gia, kết quả bầu cử được xem là hợp lệ nếu tỉ lệ cử trí phải đạt tới một con số nhất định.

Để tôn trọng nguyên tắc tự do bầu cử mà vẫn đảm bảo sự tham gia đầy đủ của nhân dân vào các cuộc bầu cử, pháp luật bầu cử của Vương quốc Thái Lan quy định việc tước bỏ một số quyền lợi chính trị cơ bản của công dân nếu họ không tham gia bầu cử, như: quyền kiến nghị bầu cử, quyền ứng cử vào nghị viện và các cơ quan hành chính địa phương, quyền kiến nghị luật, quyền khiếu nại tố cáo... Như vậy, việc thực hiện nguyên tắc tự do bầu cử của công dân vẫn có những hạn chế nhất định. Điều này thể hiện ý chí của Nhà nước là yếu tố chủ đạo trong việc định hướng các quyền chính trị của công dân.

d. Nguyên tắc trực tiếp

Bầu cử trực tiếp là việc cử tri trực tiếp đi bầu cử, tự bỏ lá phiếu của mình vào hòm phiếu để lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước; không nhờ bầu hộ, bầu thay. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu được thì có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Nếu cử tri vì già yếu, khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì có thể nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Với những cử tri không thể đến nơi bỏ phiếu được thì cơ quan phụ trách bầu cử phải mang hòm phiếu và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và bầu.

Hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới luật bầu cử cho phép cử tri có thể bỏ phiếu qua đường bưu điện, hoặc cho phép bỏ phiếu điện tử để tạo thuận lợi cho cử tri bầu cử

Chẳng hạn như cuộc bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ: người dân được phép bỏ phiếu qua đường bưu điện

Bên cạnh các quốc gia tổ chức bầu cử theo nguyên tắc trực tiếp, thì cũng có một số quốc gia tổ chức bầu cử theo nguyên tắc gián tiếp. Ví dụ như bầu cử tổng thống ở Mỹ: cử tri Mỹ bầu ra danh sách đại cử tri đoàn và đại cử tri đoàn sẽ trực tiếp bầu ra tổng thống

e. Nguyên tắc bỏ phiếu kín

Nguyên tắc bỏ phiếu kín bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn người mình tín nhiệm mà không bị tác động bới những điều kiện và yếu tố bên ngoài. Theo đó, việc bầu cử của cử tri là hoàn toàn bí mật, cử tri viết phiếu bầu trong khu vực riêng, không ai được xem phiếu bầu của cử tri kể cả thành viên tổ bầu cử, không ai được được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri và cử tri tự mình bỏ phiếu bầu vào hòm phiếu. Nguyên tắc này được cho là có hiệu quả nhất khi tiến hành bỏ phiếu taaoj trung tại địa điểm bỏ phiếu nhất định. Những hình thức bỏ phiếu qua bưu điện hay bỏ phiếu điện tử được cho là có chưa nhiều rủi ro khi mà tính bảo mật bị hạn chế.