1. Có được đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận không ?

Thưa luật sư, tôi muốn được tư vấn một sự việc. Hiện nay tôi 24 tuổi, gia đình tôi mới mua một căn nhà với số tiền là 550 triệu, trong đó mẹ tôi có vay một số tiền là 300 triệu của dì ruột của tôi với mục đích để mua nhà, căn nhà này hiện đang đứng tên tôi, và bắt đầu vay từ ngày 22-9-2015.

Ban đầu, trong số tiền 300 triệu đó tôi được biết có 100 triệu là của dì tôi cho vay không lãi suất và trả trong khoảng thời gian 2 năm cũng được, số tiền 200 triệu còn lại dì tôi dùng sổ bìa đỏ của mình vay của ngân hàng với mức lãi suất là 1,1, gia đình tôi phải trả trong thời gian 2 năm với điều kiện mỗi tháng phải trả 5 triệu tiền gốc và hai triệu hai tiền lãi, với ngày chi trả lãi suất là ngày 20 hàng tháng, gia đình tôi đã thanh toán được hai tháng là tháng 10 và tháng 11. Sau khi vay tiền mẹ tôi và dì có làm một bản viết tay với điều kiện chi trả lãi suất như tôi đã nói trên nhưng không có xác nhận của ủy ban nhân xã. Trong khoảng hơn một tháng trở lại đây gia đình tôi có xảy ra bất hòa với hai người dì và bà ngoại tôi, họ lấy lý do phải lấy lại số tiền kể trên để lấy lại bìa đỏ để sử dụng vào việc khác nên đã yêu cầu tôi viết một bản viết tay có xác nhận của chính quyền địa phương nơi tôi sinh sống, yêu cầu mẹ tôi và tôi phải trả khi dì tôi cần lấy lại số tiền đó,trong tờ viết tay này ghi rõ mẹ tôi là người nhận tiền nhưng khi xin xác nhận của địa phương thì không có chữ ký xác nhận của mẹ tôi.

Ngày 14-12-2015 vừa qua dì tôi yêu cầu tôi và mẹ tôi tôi phải trả lại số tiền đã vay này, hiện nay gia đình tôi chưa đủ khả năng trả lại số tiền này. Vậy tôi muốn được tư vấn sự việc này sẽ có hệ quả như thế nào, tôi và gia đình phải chịu hệ quả như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hiện nay, việc dì của bạn yêu cầu gia đình bạn trả lại số tiền đã vay là 200t hoàn toàn trái với quy định của pháp luật. Do hợp đồng vay của gia đình bạn với dì là hợp đồng vay có thời hạn và có lãi suất thì theo quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015 số 91/2015/QH13 của Quốc hội thì đây không thuộc trường hợp bên cho vay được đòi lại tài sản trước thời hạn ghi trong hợp đồng vay. Nên bạn không cần lo lắng về việc dì bạn yêu cầu gia đình bạn thanh toán khoản vay trước thời hạn

Cụ thể:

1. Hợp đồng cho vay tài sản?

Đầu tiên, tài sản được định nghĩa theo Luật dân sự 2015 bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản"

Thứ hai, hợp đồng vay tài sản được định nghĩa tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 theo đó: " Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho vay tài sản

Đối với bên cho vay:

Bên cho vay là người có tiền hoặc vật chuyển cho bên vay để bên vay làm chủ sở hữu. Việc chuyển giao này làm phát sinh quyền sở hữu của bên đi vay, đồng thời với việc chuyển giao đó cũng làm chấm dứt quyền sở hữu của người cho vay đối với số tiền hoặc vật đó. Trong hợp đồng vay tài sản, bên cho vay có các quyền sau:

- Nếu trong hợp đồng, các bên thoả thuận vay có lãi thì khi đến hạn bên vay có quyền được nhận lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi như đã thoả thuận. Nhưng ngược lại nếu trong hợp đồng vay có kỳ hạn, các bên đã thoả thuận kỳ hạn thì bên cho vay không có quyền yêu cầu bên vay phải trả lại trước thời hạn vay đã thoả thuận. Nếu bên cho vay yêu cầu bên vay trả trước thời hạn lúc này bên cho vay đã vi phạm hợp đồng.

- Nếu hợp đồng cho vay có áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay không thực hiện đúng thời hạn, thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như thoả thuận hoặc theo yêu cầu bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ.

- Bên cho vay có quyền đòi lại tài sản trước thời hạn so với hợp đồng vay.

- Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn nếu đã đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ nếu cho vay có lãi.

Đối với bên vay:

Về nghĩa vụ của bên vay, được quy định tại Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể nói nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền hoặc vật cùng loại với một khoản lãi (nếu hợp đồng vay có lãi) là nghĩa vụ chủ yếu của bên vay khi giao kết hợp đồng. Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Bên vay tài sản là tiền, thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp vì một lý do nào đó bên vay sau một thời gian sử dụng đã không còn tài sản đó nữa, nếu bên cho vay đồng ý thì bên vay "có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại thời điểm, địa điểm trả nợ nếu được bên cho vay đồng ý" (khoản 2 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2005)

3. Các trường hợp bên cho vay đòi lại tài sản trước thời hạn

Theo quy định của pháp luật cụ thể tại Khoản 3 Điều 465, Điều 470 Bộ luật dân sự 2015 thì bên vay chỉ được đòi lại tài sản trong trường hợp là hợp đồng vay có kì hạn và không có lãi. Và mặc dù có quyền được đòi lại cũng phải có sự đồng ý của bên vay thì bên cho vay mới được đòi lại tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mức thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế ? Tư vấn tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ?

2. Đòi tiền vay nợ thông qua người trung gian ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Mẹ tôi có cho cô N.T.M - giám đốc công ty M.K mượn 1 số tiền là 2 tỷ 600 triệu nhưng không qua trực tiếp cô M này mà qua trung gian 1 người nữa là cô T (thư kí công ty M.K) nhưng trong quá trình mượn tiền đều có giấy tờ xác nhận trên giấy tờ đều có chữ ký của cô M ( ghi rõ là N.T.M có mượn của bà N.T.P (mẹ tôi) và có dấu mộc của công ty M.K.

Ngoài ra trong thời gian gần đây cô T có mượn tiền thêm 1 số người nữa ngoài mẹ tôi và hiện giờ đã trốn khỏi địa phương (do thiếu nợ quá nhiều). Khi mẹ tôi xuống gặp cô M này để lấy khoản tiền đã cho mượn thì cô M nói mượn của cô T nên phải đợi cô T về giải quyết, cô M nói là cô T lợi dụng lòng tin kêu cô M ký trước và đóng dấu mộc nên cô M không chịu trả số tiền trên cho mẹ tôi nhưng trên giấy tờ thì chỉ ghi chủ nợ là N.T.P (mẹ tôi) và người mượn là N.T.M .

Vậy Luật sư cho tôi hỏi khi ra tòa thì có giải quyết ổn thỏa được hay không và hướng tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Nếu được Luật sư có thể soạn cho tôi mẫu đơn và hướng giải quyết được không thưa Luật sư? Hiện giờ gia đình tôi xáo trộn do khoản tiền quá lớn bị thất thoát ?

Mong Luật sư tư vấn. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.T

Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi:1900.6162

Trả lời:

Trước hết, trường hợp của bạn cần xác định quan hệ pháp luật dân sự giữa mẹ bạn, cô T (thư ký công ty M.K) và cô M (giám đốc công ty M.K). Cô M là đại diện theo pháp luật của công ty M.K (người đứng đầu công ty M.K - căn cứ theo Điều 141 khoản 4 Bộ luật dân sự 2005). Theo lời khai của mẹ bạn thì rõ ràng cô M có ủy quyền cho cô T đi vay tiền (trên các giấy tờ giao dịch đều có chữ ký của cô M và dấu của công ty), như vậy phát sinh quan hệ vay tài sản giữa mẹ bạn và cô M. Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Tuy nhiên, cô M phủ nhận quan hệ vay tài sản giữa mẹ bạn và cô M (thông qua cô T), "cô M nói là cô T lợi dụng lòng tin kêu cô M ký trước và đóng dấu mộc nên cô M không chịu trả số tiền trên", do đó phát sinh tranh chấp. Như vậy, cô M phủ nhận việc ủy quyền cho cô T thực hiện giao dịch vay tiền mẹ bạn.

Điều 142, điều 143, điều 145 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

" Điều 142. Đại diện theo uỷ quyền

1. Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện.

2. Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản."

" Điều 143. Người đại diện theo uỷ quyền

1. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện."

" Điều 145. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện.

2. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch."

Trong trường hợp của mẹ bạn, có hai vấn đề cần được làm rõ:

- Thứ nhất, mẹ bạn không biết và không thể biết được việc cô M không ủy quyền cho cô T thực hiện giao dịch vay tiền (hình thức ủy quyền có thể bằng lời nói, không nhất thiết bằng văn bản), rõ ràng cô T vay tiền mẹ bạn dưới danh nghĩa của cô M và vay tiền cho cô M, còn có chữ ký của cô M và dấu công ty làm chứng cứ

- Thứ hai, cô M biết và phải biết việc cô T vay tiền mẹ bạn, được chứng minh qua việc cô M đã ký tên và đóng dấu vào giấy tờ vay tiền, hơn nữa, cô T còn vay tiền nhiều đối tượng khác dưới danh nghĩa cô M, như vậy, cô M phải biết và có trách nhiệm phải biết sự tồn tại của các giao dịch vay tài sản này.

Việc chứng minh hai vấn đề trên xác định được quan hệ vay tài sản giữa mẹ bạn và cô M, phát sinh quyền và nghĩa vụ của cô M đối với giao dịch vay tiền mẹ bạn, do đó cô M có nghĩa vụ thanh toán số tiền vay cho mẹ bạn theo điều 474 Bộ luật dân sự 2005 , cụ thể như sau:

" Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình. Mẹ bạn có thể nộp hồ sơ khởi kiện cô M kèm theo những chứng cứ liên quan tới Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cô M cư trú.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

3. Thủ tục khởi kiện vay nợ không trả ?

Luật Minh Khuê tư vấn các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục vay nợ nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Trả lời:

* Thủ tục khởi kiện

Đối với trường hợp một trong các bên vay hoặc bên cho vay không thực hiện đúng trách nhiệm của mình theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì bên bị vi phạm có quyền khởi kiện:

"Điều 473. Nghĩa vụ của bên cho vay

Bên cho vay có các nghĩa vụ sau đây:

1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thoả thuận;

2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó;

3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 478 của Bộ luật này.

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.".

Thủ tục khởi kiện như sau:

1. Chuẩn bị hồ sơ: Hồ sơ khởi kiện bao gồm những giấy tờ sau đây: mẫu đơn khởi kiện; Giấy tờ tùy thân của bên khởi kiện; Giấy tờ tùy thân của bên bị kiện; Giấy tờ chứng minh có tồn tại quan hệ vay hợp pháp; Giấy tờ chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ.

2. Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi bị đơn cư trú. làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc tại nơi bị đơn đặt trụ sở (nếu bị đơn là tổ chức) theo quy định tại điều 38, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Tòa án sẽ tiến hành thụ lý theo quy định tại điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

"Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).".

Tòa án sẽ tiến hành chuẩn bị xét xử trong khoảng thời gian 4 đến 6 tháng. Điều 203, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.".

* Mức lãi suất tối đa mà Nhà nước cho phép:

Hiện tại Quyết định 2868/QĐ-NHHH Quy định về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm.

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.".

Như vậy, lãi suất tối đa nhà nước cho phép là 13,5%/năm, tức 1,125%/tháng. Đối với phần lãi suất vượt quá, Tòa án sẽ tiến hành tuyên bố vô hiệu.

Đối với trường hợp cho vay với lãi suất tối đa mà Nhà nước cho phép thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

4. Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền ?

Xin chào luật sư.tôi là N tôi ở Vĩnh Phúc, trường hợp của tôi như sau mong luật sư cho tôi ý kiến và tôi có thể đòi quyền lợi của mình được không? . Anh H là em trai út của tôi, có gọi điện cho tôi ,nói là nhờ chị vay hộ em một khoản tiền sau cuối cuộc thoại , tôi đồng ý vay hộ em trai tôi khoản tiền đó và em H sẽ là người chịu đóng số lãi hàng tháng tôi đã vay cho em trai tôi.

Thỏa thuận với cậu H chịu mức lãi suất là 4,5% trên 1 tháng . Lần đưa tiền đầu tiên của tôi cho cậu H,bằng tiền mặt nhận qua tay từ V là chị của H ,đồng thời là em gái tôi với số tiền là : 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng chẵn) em gái tôi làm chứng. Lần thứ hai tôi gửi cho cậu H vào ngày 16/07/2012 với khoản tiền là 30.000.000đ . (Ba mươi triệu đồng chẵn ).Qua số tài khoản :4601xxxxxx Đứng tên tài khoản H tại ngân hàng (CN NH TMCP DT&PT Hải Dương) và tôi có giữ giấy tờ của ngân hàng. Lần thứ ba Tôi gửi cho cậu H vào ngày 18/07/2012 .với số tiền là 60.000.000 đ (Sáu mươi triệu đồng chẵn ) qua số tài khoản: 4601xxxxxx. Đứng tên tài khoản Nguyễn Đức Hiển. Lần thứ tư, Tôi gửi vào ngày 25/07/2012.Với số tiền 40.000.000 đ (Bốn mươi triệu đồng chẵn ) qua số tài khoản: 4601xxxxx. Đứng tên tài khoản H. _lần thứ năm vào ngày 13/09/2012.

Với số tiền là 40.000.000 đ (Bốn mươi triệu đồng chẵn ) qua số tài khoản: 4601xxxxx. Đứng tên tài khoản H. Vị tri tổng số tiền tôi gửi và đưa tiền mặt cho cậu H là 190.000.000 với thỏa thuận và lãi hàng tháng cậu H phải gửi trả cho tôi là 4.5% trên tháng. Trong khoảng thời gian cuối năm 2012 đầu năm 2013 cậu H có gửi trả lãi hàng tháng cho tôi đúng hẹn và trả bớt số tiền gốc cho tôi là 60.000.000 đ (Sáu mươi triệu đồng chẵn ) qua số tài khoản giao dịch của tôi tại ngân hàng.Cho đến ngày 25/04/2013 thì cậu H không hoàn trả lãi cho tôi theo đúng ngày hẹn và đồng thời cậu H gạt nợ sang cho cậu V là anh trai của cậu H và là em trai tôi. Sự việc thứ hai: Từ ngày gạt nợ tôi thấy có dấu hiệu bất thường với khoản tiền trên và đã nhiều lần tôi gọi điện thúc dục cậu H và các thành viên trong gia đình tôi ở dưới Hải Dương để dàn xếp nội bộ trong gia đình.nhưng tôi nhận được câu trả lời từ cậu H và cậu V khất khoản tiền này của tôi từ tháng này sang tháng khác ,từ năm này sang năm khác.

Vì nể tình nghĩa chị em trong gia đình ,tôi nín nhịn chịu khoản tiền lãi hàng tháng với 4,5% trên tháng, và không muốn bất hòa các thành viên trong gia đình tôi.Từ ngày 25/4/2013 cho tới nay tôi đã phải chịu lãi thay cho cậu H với số tiền lãi lên tới 34.500.000đ Do sức ép và bản thân tôi không chi trả nổi số lãi suất 4,5% 1 tháng,tôi đac phải vay Ngân hàng Sài Gòn và quỹ tín dụng với tổng số lãi hàng tháng là 19.350.000đ cộng với 13.872.000đ tổng số gốc và lãi là 197.792.000đ cho đến tháng 11/2014 _11/2015.

Tôi phải vay quỹ tín dụng là 150.000.000đ thì đã gửi trả cho tôi số tiền lãi là 10.000.000đ còn lại không chịu trả cho tôi. trường hợp này tôi có thể đòi lại số tiền cả gốc và lãi của mình dc không thưa luật sư?

Tôi xin cảm ơn!

Trả Lời:

1. Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì đây là hợp đồng vay tài sản theo điều 471 Bộ luật dân sự 2005 , Việc bạn đứng ra vay bên phía ngân hàng bạn sẽ là người phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán vì bạn là người đứng tên vay và ký kết. Vấn đề giữa bạn và em bạn có thể giải quyết bằng cách thương lượng hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú của người vay tiền để được giải quyết.

Để đảm bảo đơn của bạn được Tòa án chấp nhận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch vay tiền trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc vay tiền, nhận tiền giữa hai bên. Trong trường hợp các bên không lập hợp đồng cho vay, cũng không có giấy biên nhận hay giấy ghi nợ thì bạn có thể xuất trình cho Tòa án các chứng cứ như bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, nội dung tin nhắn vay tiền, giấy nhận nợ, người làm chứng xác nhận có việc vay tiền giữa 2 bên.

"Điều 163. Tài sản

Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản."

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

"Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

2. Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng

"Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Trường hợp mức lãi của bạn đặt ra vượt quá quy định của ngân hàng nhà nước thì bạn chỉ có thể thực hiện đòi lại số lãi theo mức quy định trên.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?

5. Không có giấy vay nợ có đòi được tiền không ?

Thưa luật sư, Mình có cho bạn mượn 1 số tiền là 20tr, nhưng không có giấy vay nợ, chỉ có đoạn đối thoại bằng tin nhắn trên line, và sao kê chuyển khoản qua ngân hàng, thì mình có thể khởi kiện người đó không ?
Mong văn phòng luật sư giúp đỡ.

Không có giấy vay nợ có đòi được tiền không?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bộ luật Dân sự 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân sự như sau:

"Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Theo đó, hợp đồng dân sự không bắt buộc lập thành văn bản thì vẫn có hiệu lực pháp luật. Nếu bạn có những chứng cứ về việc cho người kia vay tiền thì có thể khởi kiện ra Tòa yêu cầu giải quyết tranh chấp. Việc xác định chứng cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:

"Điều 95. Xác định chứng cứ

1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.

6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định."

Bạn có thể gửi đơn khởi kiện kèm theo những giấy tờ mà bạn có lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người kia cư trú để yêu cầu người kia hoàn trả tiền cho mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành