Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng; tính đa dạng này có thể thể hiện ở chủ thể gây thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh gây thiệt hại... nên Bộ luật dân sự có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể.

1. Quy định về bồi thường khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Xuất phát từ nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015:

“Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (khoản 4).

Do đó, mọi hành vi gây thiệt hại cho các đối tượng được pháp luật bảo vệ đều không được pháp luật thừa nhận.

Tuy nhiên, để khuyến khích các cá nhân tự bảo vệ, chủ động ngăn chặn các hành vi trái pháp luật làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, pháp luật coi việc chống trả các hành vi xâm phạm đến các đối tượng nêu trên trong chừng mực nhất định là phòng vệ chính đáng, về mặt lí luận cũng như thực tiễn, chế định phòng vệ chính đáng được đề cập chủ yếu trong pháp luật hình sự. Phòng vệ chính đáng trong pháp luật dân sự được tiếp thu trên cơ sở lí luận và thực tiễn trong pháp luật hình sự.

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015 thì:

“1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chổng trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hĩnh sự theo quy định của Bộ luật này”.

Nếu một người có hành vi chống trả lại hành vi gây thiệt hại của người khác và hành vi chổng trả lại này được coi là phòng vệ chính đáng thì hành vi chống trả đó không bị coi là hành vi trái pháp luật, do đó người thực hiện hành vi chống trả không phải bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, Điều 594 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.

Nếu căn cứ vào các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng không bị coi là hành vi trái pháp luật và do đó người thực hiện hành vi này không bị coi là có lỗi. Tuy nhiên, để xác định một hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng, cần phải chú ý:

Thứ nhất: Có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm tới lợi ích của chính bản thân người phòng vệ chính đáng.

Thứ hai: Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho đối tương bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra mà người bị thiệt hại mới có hành vi chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì không thể coi là phòng vệ chính đáng.

>> Xem thêm:  Nguồn nguy hiểm cao độ là gì ? Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu như thế nào ?

Thứ ba: Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại (trước tiên là tính mạng, sức khoẻ; trong những trường hợp nhất định có thể là tài sản của người có hành vi xâm phạm). Nếu gây thiệt hại cho người không có hành vi xâm hại thì không coi là phòng vệ chính đáng mà có thể coi là gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu thoả mãn đủ các điều kiện nhất định.

Thứ tư: Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải là cần thiết và tương xứng với hành vi xâm hại. Nếu không cần thiết hoặc không tương xứng thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại.

Như vậy, khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích được pháp luật bảo vệ thì bản thân người phòng vệ chính đáng phải cân nhắc, tính toán để có thể phòng vệ chính đáng. Chính vì phòng vệ chính đáng không bị coi là trái pháp luật, người phòng vệ chính đáng không bị coi là có lỗi nên pháp luật dân sự quy định người phòng vệ chính đáng không phải bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, nếu người phòng vệ chính đáng gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả của hành vi “vượt quá” giới hạn phòng vệ chính đáng thì người này phải bồi thường thiệt hại. Đoạn 2 Điều 594 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại’'.

Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ở đây được hiểu là khi bị người khác gây thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại nhưng có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ của sự tấn công, điều kiện hoàn cảnh của hành vi tấn công và hành vi chổng ttả, do đó vượt quá giới hạn cần thiết nên đã gây ra thiệt hại cho người có hành vi gây thiệt hại ban đầu. Do đó hành vi của họ đã vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng. Việc vượt quá giới hạn đó bị coi là trái pháp luật, vì vậy họ phải bồi thường thiệt hại.

Việc bồi thường thiệt hại do hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được xác định như thế nào? Có hai cách hiểu khác nhau xung quanh vấn đề này:

- Cách hiểu thứ nhất: Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được coi là một tình tiết giảm nhẹ trong trách nhiệm hình sự nhưng không thể làm cơ sở để giảm mức bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm dân sự, vì đó là các hành vi bất hợp pháp.

- Cách hiểu thứ hai: Nếu gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại với nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu. Tuy nhiên, trong trường hợp này thì cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi nên cần xác định trách nhiệm hỗn hợp đối với cả hai bên.

Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này cần có những sự chú ý nhất định. Thông thường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây: Có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại được coi là trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; có lỗi của người gây thiệt hại. Ngoài ra, về nguyên tắc, một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại. Theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng thì hành vi đó không bị coi là trái pháp luật, do vậy người thực hiện hành vi này không phải bồi thường. Neu thực hiện hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì hành vi này bị coi là đã (thực hiện hành vi) trái pháp luật, do vậy người thực hiện hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi đó gây ra.

Xuất phát từ nguyên tắc một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó mang lại, do vậy khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hai xảy ra. Trường hợp người gây thiệt hại đã thực hiện phòng vệ chính đáng nhưng sau đó có thể do tưởng tượng sai lầm nên tiếp tục thực hiện một hành vi phòng vệ không cần thiết. Trường hợp này, hành vi gây thiệt hại là trái pháp luật, do vậy phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi đó gây ra.

>> Xem thêm:  Quyền tự vệ hợp pháp là gì ? Quy định pháp luật về quyền tự vệ hợp pháp

2. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Theo quy định tại Điều 595 Bộ luật dân sự thì:

“1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.

Bộ luật dân sự không đưa ra khái niệm tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, Điều 23 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“l. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị coi là tội phạm. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người thực hiện hành vi phạm tội với Nhà nước, còn trách nhiệm dân sự (bồi thường) là trách nhiệm giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.

Khoản 1 Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người gây thiệt hại trong tình thế cẩp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ quy định này, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu nếu như người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải chịu trách nhiệm hình sự thì dưới góc độ pháp luật dân sự, họ cũng không phải bồi thường. Chỉ coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất: Có một nguy cơ đang thực tế đe doạ cho lọi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cần lưu ý rằng, tình thế cấp thiết chỉ là “nguy cơ” đe doạ gây thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra. Do đó, bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải cân nhắc tính toán về nguy cơ này. Nguy cơ gây thiệt hại đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ có thể xuất phát từ hành vi trái pháp luật của con người, tác động của thiên nhiên (bão, lũ, cháy...), súc vật tấn công...

Thứ hai: Nguy cơ phải có thực, tức là phải đang bắt đầu, đang diễn ra và chưa kết thúc. Nếu nguy cơ không có thực, đã xảy ra rồi thì không thể tồn tại tình thế cấp thiết.

Thứ ba: Nguy cơ đang đe doạ lợi ích được pháp luật bảo vệ, điều đó có nghĩa là những lợi ích này phải hợp pháp. Đối với các lợi ích không hợp pháp thì không thể viện dẫn là gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Thứ tư: Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là biện pháp tốt nhất để ngăn chặn thiệt hại có nguy cơ xảy ra. Trong khi có một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ, với các yếu tố khách quan và chủ quan thì bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại cho một đối tượng khác (cần lưu ý là không phải gây thiệt hại cho “nguy cơ đe doạ”) để ngăn chặn thiệt hại xảy ra.

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

Thứ năm: Thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải là thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Khi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, bản thân người gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán giữa một bên là hậu quả có thể xảy ra cho đối tượng được pháp luật bảo vệ khi có nguy cơ đe doạ gây thiệt hại với thiệt hại mà mình sẽ gây ra trong tình thế cấp thiết. Do đó, chỉ coi là gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu thiệt hại xảy ra là nhỏ hơn so với thiệt hại cần ngăn ngừa.

Trên thực tế, có những trường hợp một người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thể cấp thiết thoả mãn đầy đủ bốn điều kiện trên đây, tuy nhiên điều kiện thứ năm lại không được thoả mãn, tức là thiệt hại được gây ra trong tình thế cấp thiết lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Trong trường hợp người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết nhưng có sự sai lầm trong việc đánh giá giữa hậu quả của nguy cơ đe doạ với thiệt hại sẽ xảy ra, do đó họ gây ra một thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thìrách nhiệm bồi thường thiệt hại được giải quyết như thế nào? Khoản 1 Điều 595 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại”.

Người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết đã có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ gây thiệt hại của “nguy cơ đe doạ” nên họ đã gây thiệt hại vượt quá so với yêu câu của tình thể cấp thiết. Lỗi của người gây thiệt hại được xác định là lồi đối với phần vượt quá nên họ chỉ phải bồi thường thiệt hại đối với phần vượt quá mà thôi.

Nguyên tắc chung là không buộc người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp họ gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì họ phải bồi thường phần vượt quá.

Khoản 2 Điều 595 Bộ luật dân sự quy định: “Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Theo quy định này, người gây ra tình thế cấp thiết sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Mặc dù bản thân người này không phải là người trực tiếp gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên họ là người đã tạo ra “nguy cơ đe doạ gây thiệt hại” cho các lợi ích đó, do vậy họ phải là người chịu trách nhiệm bồi thường.

Pháp luật dân sự chỉ quy định người gây ra tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại do tình thế cấp thiết gây ra (họ không phải bôi thường phần vượt quá vì phần này người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết sẽ phải là người bồi thường), tuy nhiên nếu “nguy cơ đe doạ gây thiệt hại” - tức là tình thế cấp thiết không phải do con người gây ra (do thiên nhiên mang lại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết không đặt ra mà phải coi là rủi ro mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn thì sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

>> Xem thêm:  Quy trình xử lý khi xảy ra tai nạn Giao thông đường bộ ?