1. Ca dao hài hước là gì?

Ca dao hài hước là những bài ca dao trong đó có yếu tố gây cười, yếu tố hài hước nhằm để giải trí và phê phán những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống. Ca dao hài hước thể hiện quan điểm, trí thông minh, khiếu hài hước, tâm hồn lạc quan, yêu đời, niềm tin vào cuộc sống của nhân dân lao động cho dù cuộc đời còn nhiều gian truân.

Mục đích của ca dao hài hước là tạo ra tiếng cười giải trí nhưng có nhiều trường hợp dùng tiếng cười để chế giễu những thói hư tật xấu trong nhân dân cũng như phê phán, đả kích những hạng người xấu trong xã hội.

 

2. Phân loại ca dao

+ Ca dao tự trào: người lao động lấy cái nghèo của mình ra để tự cười mình, thi vị hóa cảnh nghèo, là tiếng cười vui cửa, vui nhà rất cần trong cuộc sống, dù vất vả lo toan bộn bề nhưng những câu ca dao như lời dộng viên, an ủi giúp họ quên cảnh nghèo khổ, cố gắng làm việc hăng say hơn.

=> Ca dao tự trào cũng rất phù hợp với đặc tính hài hước, ưa trào lộng của nhân dân ta.

+ Ca dao châm biếm (tiếng cười mua vui giải trí): Có sự chọn lọc những chi tiết điển hình, hư cấu dựng cảnh tài tình, cường điệu phóng đại... để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh.

Nghệ thuật: Ca dao hài hước thường sử dụng một số biện pháp nghệ thuật như phóng đại đối lập, chơi chữ, nói ngược (phản ngữ), nói quá (cường điệu)..... 

 

3. Soạn bài Ca dao hài hước Ngữ văn 10

Câu 1 (Trang 91 sgk Ngữ văn 10 tập 1): – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dỉ dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào?

Bài ca là sự đối đáp của chàng trai và cô gái, cả hai cùng nói đùa việc trọng đại- cưới xin, lễ vật xin cưới

- Cách nói giàu hình ảnh, ý nghĩa bằng cách thách cưới không bình thường, đó là cách tự trào về cảnh nghèo khó của người lao động.

- Lời chàng trai: chàng trai có dự định to tát: Toan dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò thế nhưng lại viện đủ lí do để khước từ. Chàng trai muốn đám cưới linh đình 

- Lời cô gái: thách cưới “một nhà khoai lang”. Lời dẫn cưới và thách cưới mang đầy tính hài hước, cợt đùa về cái nghèo của cả chàng trai, cô gái để họ ham sống, yêu đời và lạc quan hơn.

=> Thể hiện một triết lý nhân sinh: đặt tình nghĩa cao hơn của cải.

Bài ca sử dụng biện pháp nói quá, tương phản tạo tiếng cười dí dỏm, hài hước

+ Lối nói khoa trương : dẫn voi, dẫn trâu, bò- nhà khoai lang

+ Biện pháp đối lập giữa ước mơ với thực tế: thực chất nghèo nàn nhưng ước mơ một đám cưới linh đình. Chàng trai vì nghèo nên đã đưa ra đủ lý do để thoái thác việc dẫn voi, trâu, bò; cuối cùng chỉ dẫn tới một thực tế trái ngược: Đó là dẫn cưới bằng "một con chuột béo".

+ Lối nói phủ định: dẫn voi sợ quốc cấm, dẫn trâu sợ họ máu hàn, dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

 

Câu số 2, 3, 4: Bài ca dao 2, 3, 4. Đọc các bài ca số 2, 3, 4 có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao.

Bài làm:

- Tiếng cười trong các bài ca dao này khác với bài 1 về tính phê phán và tự trào.

+ Bài 1 là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười  là người khác.

+ Ở bài 2, đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai. Thủ pháp nghệ thuật là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ. Đối lập "làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam". Ở đây đối lập với "làm trai" và "sức trai" là "Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng". Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm.

+ Ở bài 3, đối tượng châm biếm là ông chồng vô tích sự, lười nhác, không có chí lớn. Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa "chồng người" với "chồng em"), và biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết "ngồi bếp" để "sờ đuôi con mèo"). Tác giả dân gian đã tóm chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho loại đàn ông lười nhác, ăn bám vợ.

+ Ở bài 4 cũng dùng biện pháp nói quá nhưng là 2 lần nói quá: Vừa nói quá về cái xấu của cô vợ, lại vừa nói quá về tình yêu mù quáng của ông chồng. Cái hấp dẫn của màn hài hước này là sự cường điệu diễn ra song hành, không có điểm dừng, cho thấy tình yêu của anh chồng cũng mù quáng không có điểm dừng.

 

4. Ca dao hài hước về tình yêu, cuộc sống

4.1. Ca dao hài hước về tình yêu

Đố ai nằm võng không đưa

Đố ai gặp lại người xưa không nhìn

Đố ai quên được chữ tình

Đố ai quên được bóng hình người yêu...

*

Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.

*

Lấy chồng từ thủa mười lăm

Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi

Đến khi mười tám đôi mươi

Tối nằm dưới đất, chồng lôi lên giường

Một rằng thương hai rằng thương

Có bốn chân giường gãy một còn ba.

*

Cái bống cõng chồng đi chơi

Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng

Chị em ơi, cho tôi mượn cái gàu sòng

Để tôi tát nước múc chồng tôi lên.

*

Cưới nàng, anh toan dẫn voi, 

Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.

Dẫn trâu, sợ họ máu hàn, 

Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân, 

 Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

Chàng dẫn thế, em lấy làm sang, 

Nỡ nào em lại phá ngang như là...

Người ta thách lợn, thách gà, 

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!

Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà: 

Bao nhiêu củ rím, củ hà,

Để cho con lợn, con gà nó ăn...

*

 Chồng người đánh giặc sông Lô

Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần

Chồng người cưỡi ngựa bắn cung

Chồng em ngồi bếp cầm thun bắn ruồi.

*

Chồng người đi ngược về xuôi,

Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.

*

Sông bao nhiêu nước cho vừa,

Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.

*

Còn duyên kén cá chọn canh

Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ

Còn duyên kén những trai tơ

Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.

*

Anh như nút, em như khuy

Như mây với núi, biệt ly không đành.

*

Gái đâu có gái lạ lùng,

Chồng chẳng nằm cùng, ném chó xuống ao.

Đêm đến chồng lại lần vào,

Vội vàng vác sọt đi trao chó về.

*

 Bà Bảy đã tám mươi tư

Ngồi trông cửa sổ gửi thư kén chồng.

*

Cơm ăn mỗi bữa một lưng

Uống nước cầm chừng để dạ thương em.

*

 Ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng

Có ai lấy tớ thì khiêng tớ vào.

 

4.2. Ca dao hài hước về cuộc sống

​Chú tôi hay tửu hay tăm

Hay uống chè đặc hay nằm ngủ trưa

Ban ngày thì muốn trời mưa

Ban đêm thì muốn cho thừa trống canh.

*

Hòn đất mà biết nói năng

Thì thầy Địa lý hàm răng chẳng còn.

*

Học hành ba chữ lem nhem

Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua. 

*

Rung rinh nước chảy qua đèo

Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng.

*

Số cô chẳng giàu thì nghèo

Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà

Số cô có mẹ có cha

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông

Số cô có vợ có chồng

Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

*

Cá trong lờ đỏ lơ con mắt

Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô.

*

Ai đi đường ấy hỡi ai

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Tìm em như thể tìm chim

Chim bay biển Bắc, đi tìm biển Ðông.

*

Cưới em ba họ nhà Trời

Đi xuống hạ giới cùng người rước dâu

Ngọc Hoàng cũng phải xuống chầu

Thiên lôi, Thủy tề đứng hầu đôi bên

Cầu vồng, mống cụt kéo lên

Xe mây ngũ sắc đưa nền tận nơi.

Con cò chết rũ trên cây

Cò con mở lịch xem ngày làm ma

Cà cuống uống rượu la đà

Chim ri ríu rít bò ra lấy phần

Chào mào thì đánh trống quân

Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao.

*

 Làm trai cho đáng sức trai,

Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng.

*

Muốn ăn gắp bỏ cho người,

Gắp đi gắp lại, lại rơi vào mình.

*

Đàn bà chẳng phải đàn bà

Thổi cơm cơm khét, muối cà cà ôi.

Làm trai cho đáng nên trai

 Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.

Trên đây là nội dung về Ca dao hài hước là gì? Ca dao hài hước về tình yêu, cuộc sống. Luật Minh Khuê hi vọng rằng bài viết này có ích với bạn giúp bạn hiểu hơn về ca dao Việt Nam đặc biệt hơn biết thêm nhiều về những câu ca dao hài hước, hóm hỉnh. Trong quá trình tìm hiểu, nếu bạn có thắc mắc, hãy phản ánh trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời. Trân thành cảm ơn!