Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Tư vấn pháp lý v/v bồi thường tương xứng đất thu hồi (đủ diều kiện làm GXNQSDĐ) bằng đất ở tái định cư

Nội Dung:

Tóm tắt về tình trạng thửa đất thu hồi và các hộ thường trú:

Thửa đất rộng 456x m2 đất ở tại đô thị, mặt tiền ở đường rộng khoảng 14m, tuy chưa có Giấy Xác nhận Quyền Sử dụng đất (GXNQSDĐ) nhưng thửa đát có đầy đủ giấy tờ pháp lý để đủ điều kiện cấp GXNQSDĐ (giấy tờ mua đất có công chứng của ông bà nội chúng tôi cách đây trên 70 năm và các giấy phép xây nhà, giấy xác nhận đóng thuế đất đầy đủ và liên tục cho đến nay).

Trên thửa đất thu hồi có 3 hộ gia đình đồng thừa kế có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống. Mỗi hộ đều có hộ khẩu thường trú (HK), sinh sống liên tục tại địa chỉ thửa đất thu hồi từ nhiều năm trước. Bên cạnh hộ khẩu của Cha (qua đời)-Mẹ của chúng tôi là hộ thừa kế duy nhất ở đời thứ hai kể từ Ông Bà nội (và là hộ thờ tự tổ tiên trên đất thu hồi), thì có 2 hộ khẩu của hai con của Cha-Mẹ chúng tôi, đã tách ra riêng từ năm 2004 và 2007. Cả ba hộ khẩu đều có nhà ở riêng biệt trên thửa đất thu hồi, có giấy xác nhận nộp thuế đât hàng năm cho từng hộ, nhưng Giấy xác nhận là cho cả thửa đất 473m2. Tất cả các hộ hòa thuận, đồng lòng thống nhất cùng nhau tìm giải pháp để được bồi thường đất ở tái định có vị trí và tổng diện tích tương đương với thửa đất thu hồi mà đại gia đình chúng tôi đang ở, và các lô tái định cư cạnh nhau.

Chúng tôi xin các luât sư của công ty giúp trả lời 3 câu hỏi:

1/ Các căn cứ pháp lý để tất cả các hộ gia đình có hộ khẩu thường trú tại thửa đất thu hồi trên được bồi thường bằng đất ở tái định cư?

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

2/ Các căn cứ pháp lý để đảm bảo, hay hỗ trợ cho việc tất cả các hộ của đại gia đình được đền bù đất ở tái định cư ở bị trí, tổng diện tích tương đương với thửa đất thu hồi và ở cạnh nhau. Trên thông tin công khai thì chúng tôi được biết khu tái định cư của nhà nước có sẵn các lô đất loại 156m2, 100m2 ở vị trí tốt tương xứng. Vì đất đai có đủ điều kiện cấp Giấy XNQSDĐ là một loại tài sản hợp pháp của công dân, vậy thì theo cơ sở pháp luật nào để chúng tôi đề nghị với các cơ quan nhà nước liên quan để được đảm bảo duy trì tài sản này khi tái định cư (theo nghĩa tương đương, không tham lam xin thêm đất thu hôi đại gia đình hiện có)?

3/ Mặt dù các hộ gia đình của chúng tôi có (1) hộ khẩu thường trú trên thửa đất có Xác nhận quyền sử dụng đất ở tại đô thị, (2) không có tài sản nhà đất nào khác ở địa phương (ở phường chúng tôi ở), (3) có cơ sở giấy tờ nộp thuế đất, chi trả dịch vụ diện, nước, điện thoại, Internet đầy đủ và riêng từng hộ, nhưng trong dự thảo bồi thường – tái định cư, Đơn vị nhà nước phụ trách bồi thường – tái định cư và Phường sở tại lại cho rằng 1 hộ của chúng tôi “không sinh sống” trên thửa đất nên không giao đất bồi thường. Như vậy có đúng luật không?

Nếu chính quyền địa phương (Phường) kiểm tra vắng mặt của hộ này tại một thời điểm bất chợt rồi kết luận “không sinh sống” cho cả năm và cả giai đoạn 14-16 năm (rồi các cơ quan giao bồi thường căn cứ vào đó không giao đất tái định cư) thì có đúng pháp luật không? Trong khi đó, việc vắng mặt một hay vài buổi, 1 hay vài đêm do đi lại công tác, làm ăn, học hành, thăm viếng ông bà nội ngoại và du dịch nghỉ mát ở chỗ khác là chuyện bình thường của các hộ gia đình chúng tôi, trong lúc thật sự chúng tôi vẫn thường trú (theo hộ khẩu) tại thửa đất thu hồi.

Chúng tôi cũng mong dữ liệu cá nhân này được bảo mật và an toàn tuyệt đối với mọi tương tác giao dịch giữa chúng tôi với Quý công ty.

Cá nhân tôi và thay mặt toàn bộ các hộ thành viên của đại gia đình xin trân thành cám ơn các anh chị.

Trân trọng!

-------------------------------------------------------

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật đất đai 2013;

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

>> Xem thêm:  Chỉnh sửa thông tin trên sổ đỏ như thế nào ? Cần làm gì khi Nhà nước ghi sai thông tin trên sổ đỏ ?

Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

Quyết định 37/2018/QĐ-UBND ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

NỘI DUNG TƯ VẤN

Câu hỏi 1: Các căn cứ pháp lý để tất cả các hộ gia đình có hộ khẩu thường trú tại thửa đất thu hồi trên được bồi thường bằng đất ở tái định cư?

Không phải trường hợp nào khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất đều tiến hành bồi thường. Vì vậy, Để làm rõ câu hỏi này cần xác định rõ hai nội dung, đó là: Điều kiện nào đất được bồi thường khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất và trường hợp nào thì người sử dụng đất được bồi thưởng bằng đất ở tái định cư. Sau đây tôi sẽ đi làm rõ hai nội dung này:

Thứ nhất, Điều kiện được bồi thường về đất

Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Quy định tại Điều 75 đưa ra điều kiện khi tiến hành thu hồi đất của: Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, tổ chức kinh tế.

Khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

>> Xem thêm:  Đất đang trong diện quy hoạch thì có được tách thửa không ? Có được chuyển nhượng nhà đất trong khu quy hoạch ?

Theo quy định trên, điều kiện để hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất cần đáp ứng những điều kiện sau:

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm;

- Có giấy chứng nhận; Hoặc nếu không có giấy chứng nhận thì có đủ điều kiện để được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (trừ trường hợp đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.)

Qua thông tin quý khách cung cấp, quý khách có đầy đủ hồ sơ giấy giấy tờ pháp lý để đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, theo quy định trê quý khách có đủ điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Thứ hai, hỗ trợ tái định cư khi tiến hành thu hồi đất;

Điều 9 quyết định 37/2018/QĐ-UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quy định:

Điều 9. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở, không đủ điều kiện để được cấp phép xây dựng nhà ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng việc giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định bồi thường bằng việc giao đất ở theo đề nghị của hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi;

>> Xem thêm:  Tư vấn việc cho thuê nhà xưởng ? Mẫu hợp đồng cho thuê nhà xưởng ?

c) Phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở hoặc không đủ điều kiện để được cấp phép xây dựng nhà ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì Nhà nước thu hồi và bồi thường theo quy định. Phần diện tích đất này được giao cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng quản lý theo quy định về quản lý đất công hiện hành.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9, để được bồi thường tái định cư phải đáp ứng các điều kiện: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở bị Nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở, không đủ điều kiện để được cấp phép xây dựng nhà ở mà lại có giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận thì việc bồi thường chia thành 3 trường hợp:

- Thứ nhất, Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng việc giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

- Thứ hai, Trường hợp còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định bồi thường bằng việc giao đất ở theo đề nghị của hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi;

Thứ ba, Phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở hoặc không đủ điều kiện để được cấp phép xây dựng nhà ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì Nhà nước thu hồi và bồi thường theo quy định. Phần diện tích đất này được giao cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng quản lý theo quy định về quản lý đất công hiện hành.

Kết luận: Như vậy, theo quy định này để được bồi thường bằng việc giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư thì phải có các điều kiện:

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở

- Nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở, không đủ điều kiện để được cấp phép xây dựng nhà ở mà lại có giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận.

- Đồng thời không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi.

Vì câu hỏi này có phần trùng vời câu hỏi thứ hai, nên nội dung: Nếu đủ tất cả các điều kiện nêu trên thì tất cả các hộ gia đình có được bồi thường tái định cư không? Tôi xin trả lời ở phần câu hỏi 2.

>> Xem thêm:  Quy định về bồi thường về đất và tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

Câu hỏi 2. Các căn cứ pháp lý để đảm bảo, hay hỗ trợ cho việc tất cả các hộ của đại gia đình được đền bù đất ở tái định cư ở bị trí, tổng diện tích tương đương với thửa đất thu hồi và ở cạnh nhau. Trên thông tin công khai thì chúng tôi được biết khu tái định cư của nhà nước có sẵn các lô đất loại 156m2, 100m2 ở vị trí tốt tương xứng. Vì đất đai có đủ điều kiện cấp Giấy XNQSDĐ là một loại tài sản hợp pháp của công dân, vậy thì theo cơ sở pháp luật nào để chúng tôi đề nghị với các cơ quan nhà nước liên quan để được đảm bảo duy trì tài sản này khi tái định cư (theo nghĩa tương đương, không tham lam xin thêm đất thu hôi đại gia đình hiện có)?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 9 quyết định 37/2018/QĐ-UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quy định như sau:

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1, Điều này mà có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng một thửa đất ở bị thu hồi nếu có nhu cầu về chỗ ở và không có chỗ ở nào khác trong cùng địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định bán thêm căn hộ tái định cư hoặc giao thêm đất ở có thu tiền sử dụng đất cho từng hộ gia đình. Giá bán nhà ở tái định cư, giá giao đất ở để thu tiền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp huyện.”

Theo quy định này, nếu gia đình có đất bị thu hồi mà có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở và có hộ khẩu riêng. Nếu có nhu cầu về chỗ ở và không có chỗ ở nào khác trong cùng địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định bán thêm căn hộ tái định cư hoặc giao thêm đất ở có thu tiền sử dụng đất cho từng hộ gia đình.

Theo Luật đất đai, Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật đất đai, quyết định 37/2018/QĐ-UBND tỉnh Thừa Thiên Huế không có quy định về vấn đề hỗ trợ cho việc tất cả các hộ của đại gia đình được đền bù đất ở tái định cư ở vị trí, tổng diện tích tương đương với thửa đất thu hồi và ở cạnh nhau.

Câu hỏi 3: Mặt dù các hộ gia đình của chúng tôi có (1) hộ khẩu thường trú trên thửa đất có Xác nhận quyền sử dụng đất ở tại đô thị,

(2) không có tài sản nhà đất nào khác ở địa phương (ở phường chúng tôi ở),

(3) có cơ sở giấy tờ nộp thuế đất, chi trả dịch vụ diện, nước, điện thoại, Internet đầy đủ và riêng từng hộ, nhưng trong dự thảo bồi thường – tái định cư, Đơn vị nhà nước phụ trách bồi thường – tái định cư và Phường sở tại lại cho rằng 1 hộ của chúng tôi “không sinh sống” trên thửa đất nên không giao đất bồi thường. Như vậy có đúng luật không?

Nếu chính quyền địa phương (Phường) kiểm tra vắng mặt của hộ này tại một thời điểm bất chợt rồi kết luận “không sinh sống” cho cả năm và cả giai đoạn 14-16 năm (rồi các cơ quan giao bồi thường căn cứ vào đó không giao đất tái định cư) thì có đúng pháp luật không? Trong khi đó, việc vắng mặt một hay vài buổi, 1 hay vài đêm do đi lại công tác, làm ăn, học hành, thăm viếng ông bà nội ngoại và du dịch nghỉ mát ở chỗ khác là chuyện bình thường của các hộ gia đình chúng tôi, trong lúc thật sự chúng tôi vẫn thường trú (theo hộ khẩu) tại thửa đất thu hồi.

>> Xem thêm:  Có được chuyển đổi đất nông nghiệp sang làm đất trang trại không ? Thủ tục cấp phép làm trang trại ?

Trả lời:

Nếu các hộ gia đình của quý khách có

(1) hộ khẩu thường trú trên thửa đất có Xác nhận quyền sử dụng đất ở tại đô thị,

(2) không có tài sản nhà đất nào khác ở địa phương (ở phường chúng tôi ở),

(3) có cơ sở giấy tờ nộp thuế đất, chi trả dịch vụ diện, nước, điện thoại, Internet đầy đủ và riêng từng hộ, nhưng trong dự thảo bồi thường – tái định cư, Đơn vị nhà nước phụ trách bồi thường – tái định cư và Phường sở tại lại cho rằng 1 hộ của chúng tôi “không sinh sống” trên thửa đất nên không giao đất bồi thường.

Như vậy có đúng luật không?

Như phân tích ở câu 1, điều kiện để được bồi thường tái định cư có điều kiện là Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở. Do đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ phải xem xét vấn đề rằng hộ gia đình có thực tế đang sinh sống tại nhà ở này hay không? Nếu họ xác định và chứng minh được răng có hộ gia đình, cá nhân không không sinh sống trên đất ở thì không bố trí tái định cư là có cơ sở.

nếu như họ không chứng minh được mà anh có đầy đủ cơ sở

Nếu chính quyền địa phương (Phường) kiểm tra vắng mặt của hộ này tại một thời điểm bất chợt rồi kết luận “không sinh sống” cho cả năm và cả giai đoạn 14-16 năm (rồi các cơ quan giao bồi thường căn cứ vào đó không giao đất tái định cư) thì có đúng pháp luật không? => Trường hợp này nếu chỉ dựa vào sự vắng mặt của hộ này tại một thời điểm bất chợt rồi kết luận “không sinh sống” cho cả năm và cả giai đoạn 14-16 năm là không đúng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn đất đaiViệc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai và quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án ?

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Giải quyết trường hợp người dân lấn chiếm đất như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất?

Trả lời:

Theo Điều 44 Luật đất đai: cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất là:

+ Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài (trừ trường hợp quy định dưới đây).

+ Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

+ Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất được quy định ở trên không được uỷ quyền cho cơ quan khác thực hiện việc thu hồi đất.

Câu hỏi: Việc thông báo thu hồi đất theo quy định pháp luật về đất đai được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thông báo thu hồi đất ngay sau khi giới thiệu địa điểm đầu tư; trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch thì thực hiện thông báo sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt và công bố.

Câu hỏi: trách nhiệm kê khai và nộp tờ khai của người bị thu hồi đất?

Trả lời:

Sau khi có thông báo thu hồi đất và hồ sơ địa chính đã chuẩn bị xong trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường thực hiện việc phát tờ khai (theo mẫu thống nhất) và hướng dẫn cho người bị thu hồi đất kê khai vào tờ khai. Người bị thu hồi đất có trách nhiệm kê khai và nộp tờ khai cho tổ chức thực hiện bồi thường. Người bị thu hồi đất phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung do mình tự kê khai trong tờ khai