1.GATT: Điều I và Điều III về không phân biệt đối xử
Các quy định thương mại quốc tế chủ yếu dựa trên cơ sở nguyên tắc không phân biệt đối xử. Điều I GATT quy định về nguyên tắc MFN, và Điều III quy định về NT, do đó cả hai điều này đều quy định về nguyên tắc không phân biệt đối xử. Khoản 1 Điều I quy định: Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay có liên quan tới nhập khẩu và xuất khẩu, hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay cách thức áp thuế hoặc áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 Điều III, mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kì bên kí kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kì một nước nào khác, sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên kí kết khác ngay lập tức và vô điều kiện. Khoản 4 Điều III quy định: Các sản phẩm từ lãnh thổ của bất kì bên kí kết nào được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên kí kết khác sẽ được hưởng đối xử không kém phần thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các sản phẩm tương tự nội địa về mặt pháp luật, quy tắc và các quy định ảnh hưởng đến việc bán hàng, chào bán, mua, vận chuyển, phân phối hoặc sử dụng ở thị trường nội địa. Yếu tố cấu thành đầu tiên của nguyên tắc không phân biệt đối xử đạt được khi tất cả các thành viên WTO đều bình đẳng theo nguyên tắc MFN. Điều I đảm bảo rằng các thành viên sẽ không được đưa ra bất kì lợi thế thương mại đặc biệt nào cho thành viên khác hay phân biệt đối xử chống lại thành viên đó. Yếu tố cấu thành thứ hai của nguyên tắc không phân biệt đối xử được quy định trong Điều III cũng đạt được khi hàng hoá nhập khẩu vào một nước được hưởng sự đối xử giống như hàng hoá nội địa. Về vấn đề môi trường liên quan đến thương mại, nguyên tắc không phân biệt đối xử đảm bảo rằng các thành viên sẽ không ban hành các chính sách trong nước về bảo vệ môi trường theo kiểu phân biệt đối xử tùy tiện giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu. Nguyên tắc này cũng hướng tới việc ngăn chặn bất kì sự phân biệt đối xử nào giữa sản phẩm nhập khẩu tương tự từ các đối tác thương mại khác nhau. Mục đích là tránh việc sử dụng và lạm dụng các chính sách môi trường như là các rào cản trá hình trong thương mại quốc tế.
2.GATT: Điều XI về loại bỏ các hạn chế số lượng
Điều XI GATT tập trung vào việc quy định loại bỏ các hạn chế số lượng đối với hàng hoá xuất nhập khẩu được các thành viên đặt ra hoặc duy trì. Mục đích của việc ngăn cấm các hạn chế như vậy là để khuyến khích các thành viên chuyển các công cụ hạn chế số lượng thành công cụ thuế quan - biện pháp có tính minh bạch hơn. Đoạn đầu tiên của Điều XI quy định: Không biện pháp cấm hay hạn chế nào khác, trừ thuế quan và các khoản thu khác, dù dưới hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các biện pháp khác, sẽ được bất cứ một bên kí kết nào định ra hay duy trì nhằm vào việc nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kì bên kí kết nào, hay nhằm vào việc xuất khẩu hay bán hàng để xuất khẩu đến lãnh thổ của bất kì bên kí kết nào. Quy định này có liên quan đến các tranh luận về thương mại và môi trường bởi vì quy định này đã bị vi phạm trong một số tranh chấp về môi trường khi các nước áp đặt lệnh cấm nhập khẩu đối với các sản phẩm nhất định.
3.GATT: Điều XX về các ngoại lệ chung
Điều XX về các ngoại lệ chung đưa ra một số trường hợp cụ thể, theo đó các thành viên WTO có thể được miễn áp dụng các quy định của GATT. Hai trường hợp ngoại lệ quy định tại đoạn (b) và đoạn (g) đều liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường. Điều XX quy định: Với yêu cầu rằng các biện pháp này không được áp dụng theo cách có thể tạo ra công cụ phân biệt đối xử tùy tiện và vô căn cứ giữa các nước nơi có các điều kiện tương tự, hoặc tạo thành một hạn chế trá hình trong thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kì bên kí kết nào ban hành hoặc thực thi các biện pháp:
Cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật;
Liên quan đến việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, nếu các biện pháp này cũng được áp dụng hạn chế với sản xuất hoặc tiêu dùng trong nước.
Hai ngoại lệ trên cho phép các thành viên của WTO có thể biện minh cho các biện pháp chính sách không phù hợp với GATT, nếu như chúng hoặc là ‘cần thiết’ để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật, hoặc là các biện pháp này liên quan đến việc bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt. Điều XX quy định rằng những biện pháp này không được phép dẫn tới bất kì phân biệt đối xử tùy tiện và vô căn cứ nào. Và cũng cần đảm bảo rằng các ngoại lệ này sẽ không tạo ra những hạn chế trá hình trong thương mại quốc tế.
4.GATS: Điều XIV
GATS quy định các ngoại lệ chung tại Điều XIV, giống như Điều XX GATT. Trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường, Điều XIV(b) GATS cho phép các thành viên của WTO duy trì các biện pháp chính sách không phù hợp với GATS, nếu điều này là ‘cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật’, tương tự như Điều XX(b) GATT. Tương tự, các ngoại lệ này không được tạo ra bất kì sự phân biệt đối xử tùy tiện và vô căn cứ nào, cũng như bất kì hạn chế trá hình nào trong thương mại quốc tế.
5. Hiệp định TBT: Khoản 2 Điều 2
Hiệp định TBT đảm bảo rằng đặc điểm kĩ thuật của sản phẩm (quy chuẩn và tiêu chuẩn kĩ thuật), cũng như các thủ tục đánh giá sự phù hợp với các đặc điểm kĩ thuật đó, không tạo ra trở ngại không cần thiết đối với thương mại. Mặt khác, việc bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật và thực vật và việc bảo vệ môi trường được coi là mục tiêu chính đáng của các thành viên. Khoản 2 Điều 2 quy định: Các thành viên phải đảm bảo rằng các quy định về kĩ thuật không được soạn thảo, thông qua hoặc áp dụng với mục đích tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế. Với mục đích này, các quy định về kĩ thuật sẽ không được phép hạn chế thương mại nhiều hơn mức cần thiết để thực hiện một mục tiêu chính đáng, có tính đến những rủi ro từ việc không thực hiện các mục tiêu. Các mục tiêu chính đáng gồm có: các yêu cầu về an ninh quốc gia; ngăn ngừa các hành vi lừa đảo; bảo vệ sức khoẻ và sự an toàn cho con người, cuộc sống và sức khoẻ cho độngthực vật, hoặc môi trường. Khi đánh giá các rủi ro, các yếu tố có liên quan được cân nhắc gồm có: thông tin khoa học kĩ thuật hiện có, công nghệ xử lí liên quan hoặc mục đích sử dụng cuối cùng theo dự tính của sản phẩm.
Hiệp định SPS Hiệp định SPS và Hiệp định TBT bổ sung cho nhau. SPS điều chỉnh nhóm các biện pháp hẹp hơn so với TBT, bao gồm các biện pháp được các thành viên thực thi để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đồ uống và thức ăn gia súc khỏi các phụ gia, độc chất hoặc chất gây bệnh. Ngoài ra, SPS còn bao gồm cả các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Các biện pháp SPS chỉ nên được áp dụng ở mức độ cần thiết để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Những biện pháp này không được phép phân biệt đối xử tùy tiện và vô căn cứ giữa các thành viên có điều kiện tương tự.
Hiệp định TRIPS và Công ước về đa dạng sinh học (CBD) Hiệp định TRIPS đặt ra những tiêu chuẩn tối thiểu về pháp luật được các chính phủ sử dụng nhằm nâng cao sự bảo hộ IPRs đầy đủ và hiệu quả. IPRs bao gồm rất nhiều chức năng, như khuyến khích sáng kiến và công khai thông tin về sáng chế, trong đó có các công nghệ về môi trường. Đối với thương mại và môi trường, Hiệp định TRIPS thực sự có tầm quan trọng đặc biệt. Một số điều khoản của Hiệp định TRIPS được xây dựng để quyết các vấn đề liên quan đến môi trường trong việc bảo hộ IPRs. Vấn đề môi trường được đề cập một cách trực tiếp ở Điều 27, Mục 5 (về Bằng sáng chế). Khoản 2 quy định rằng các thành viên có thể loại bỏ bằng sáng chế, nếu việc bảo hộ nó có thể gây tổn thất nghiêm trọng đến môi trường: Các thành viên có thể loại trừ việc cấp bằng sáng chế cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây tổn thất nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lí do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cấm. Ngoài việc ngăn chặn sự nguy hiểm cho môi trường, sự ngăn chặn này cũng có thể được áp dụng trên lãnh thổ các thành viên nếu thấy cần thiết để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Theo Hiệp định, các thành viên có thể ngăn chặn việc cấp bằng sáng chế cho các giống động-thực vật (không bao gồm vi sinh vật), và các quy trình sản xuất động thực vật (không bao gồm các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh học). Khoản 3(b) quy định: ‘Các thành viên có thể ngăn chặn việc cấp bằng sáng chế: … (b) Thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, và các quy trình sản xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh’. Khoản này còn bổ sung rằng các thành viên phải bảo hộ các giống cây trồng khác nhau nhằm mục tiêu đa dạng sinh học, bằng việc cấp bằng sáng chế hoặc các biện pháp khác được đề cập trong Hiệp định. Hiệp định TRIPS mang tính cấm đoán tích cực. Điều này khiến cho Hiệp định TRIPS trở thành duy nhất trong hệ thống quy tắc của WTO, vốn thường mô tả những việc mà các thành viên không nên làm. Hiệp định còn đặc biệt bởi nó đề cập các quyền cá nhân (quyền của các nhà sáng tạo và các nhà cải tiến), trong khi các quy định khác của WTO đề cập đến các quyền và nghĩa vụ của chính phủ. Mặt khác, Công ước đa dạng sinh học (CBD) yêu cầu các bên tham gia hợp tác để đảm bảo rằng các bằng sáng chế và IPRs khác ‘hỗ trợ và không đi ngược lại’ các mục tiêu của họ. Một số xung đột thực sự có thể xảy ra giữa CBD và các đặc điểm nhất định của IPRs. Vấn đề tiềm ẩn có thể xảy ra, bởi vì CBD cho phép các thành viên có toàn quyển kiểm soát về nguồn tài nguyên di truyền. Qua đó, họ có thể điều chỉnh và kiểm soát quyền tiếp cận nguồn tài nguyên di truyền trong lãnh thổ của họ. Nguồn tài nguyên di truyền có thể được thể hiện trong đa dạng giống cây trồng với các mã di truyền có giá trị, hoặc thậm chí cả kiến thức truyền thống. Nguồn tài nguyên này là mục tiêu tìm kiếm của rất nhiều lợi ích thương mại, bao gồm dược phẩm và thảo dược, công nghệ sinh học, nông nghiệp v.v.. CBD đòi hỏi rằng bất kì tiếp cận nào đến các nguồn tài nguyên di truyền đều phải dựa trên các điều kiện có lợi cho cả hai bên, và nước chủ nhà cần phải được thông báo trước. Bên cạnh đó, nó đảm bảo nước cung cấp nguồn tài nguyên di truyền cũng được hưởng lợi từ doanh thu của việc thương mại hoá công bằng sản phẩm hoặc thuốc mới. Điều này tránh việc cấp bằng sáng chế dựa trên nguyên liệu di truyền ‘ăn cắp’, vi phạm các quy tắc trong cam kết.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)