1. Thế nào là hành vi mua bán người?
Mua bán người hiện nay trong các quy định của pháp luật không có định nghĩa của thể thế nào là hành vi mua bán người mà chỉ có liệt kê các hành vi mua bán người. Nhưng có thể hiểu hành vi mua bán người là hành vi vi phạm pháp luật trực tiếp xâm phạm đến các quyền được pháp luật bảo vệ của công dân về tính mạng, danh dự và sức khỏe của người bị hại.
Mua bán người có nhiều hình thức như bắt cóc, lừa gạt, dụ dỗ, môi giới việc làm hay trao đổi trực tiếp người bị hại cho đối tượng mua bán khác. Có thể lợi dụng trong tình trạng nạn nhân bị khống chế, mất năng lực phản kháng và không đồng thuận với quyết định của người phạm tội. Hành vi mua bán người, hàng hóa trao đổi ở đây là hàng hóa đặc biệt chính là con người không được pháp luật cho phép trong mọi trường hợp.
Mua bán người còn được quy định tại Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự.
Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người.
Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
- Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
- Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người.
2. Cấu thành của tội danh mua bán người.
Tội mua bán người được quy định tại Điều 150 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Mặt khách quan của tội phạm:
- Có hành vi mua bán người để thu lợi bất chính. Hành vi này thể hiện dưới hình thức dùng tiền, tài sản hoặc các phương tiện thanh toán khác để đổi lấy người nhằm đem bán hoặc ngược lại để thu lợi. Các thủ đoạn thường thấy như bắt cóc; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; đầu độc nạn nhân; lợi dụng việc môi giới hôn nhân, môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc; lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân (ví dụ: lợi dụng tình trạng nạn nhân có người thân bị bệnh hiểm nghèo cần tiền chữa trị ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng) để thực hiện tội phạm.
- Trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân nhằm chuyển giao cho người khác để thực hiện các hoạt động bóc lột tình dục (như tổ chức cho nạn nhân bán dâm, đưa nạn nhân đến các cơ sở chứa mại dâm để bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm, trình diễn khiêu dâm, làm nô lệ tình dục...) hoặc tiếp nhận nạn nhân để phục vụ nhu cầu tình dục của chính mình. Để cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc nạn nhân lao động trái ý muốn của họ. Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân để chuyển giao nhằm lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân. Vì mục đích vô nhân đạo khác là sử dụng nạn nhân để làm thí nghiệm, buộc nạn nhân phải đi ăn xin hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác khác.
- Người bị hại phải là người đạt từ đủ mười sáu tuổi trở lên. Trường hợp người bị hại dưới mười sáu tuổi thì cấu thành tội mua bán trẻ em.
Lưu ý: Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện xong hành vi mua bán người. Nếu việc mua bán người chưa xảy ra thì được coi là phạm tội chưa đạt. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội không phụ thuộc vào việc bị hại có biết hay không biết mình bị mua bán.
- Mặt khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm trực tiếp tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm của con người.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích tội phạm vì vụ lợi (để thu lợi bất chính), tuy nhiên đây không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
- Mặt chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Khung hình phạt của tội mua bán người được chia làm 3 khung hình phạt chính và 1 khung hình phạt bổ sung.
- Khung một sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi tại các trường hợp trên.
- Khung hai sẽ bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm, mức phạt này áp dụng đối với các trường hợp có hành vi như sau:
- Có tổ chức;
- Vì động cơ đê hèn;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp trên;
- Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Đối với từ 02 đến 05 người;
- Phạm tội 02 lần trở lên.
- Khung 3 sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm trong các trường hợp như sau:
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
- Đối với 06 người trở lên;
- Tái phạm nguy hiểm.
- Hình phạt bổ sung thì có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3. Hành vi buôn bán người qua biên giới sẽ bị hình phạt thế nào?
Tại Điều 2 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Tội mua bán người, mua bán người thì căn cứ điều này thì ta có thể hiểu các hành vi buôn bán người qua biên giới chính là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc các thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Chuyển giao người qua biên giới để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo.
- Tiếp nhận người qua biên giới để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo
- Chuyển giao người qua biên giới để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- iếp nhận người qua biên giới để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để nhằm thực hiện hành vi chuyển giao người qua biên giới để nhận tiền, nhận tài sản hoặc lợi ích vật chất khác và chuyển giao người qua biên giới để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
Đối với hành vi buôn bán người qua khu vực biên giới thì theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 150 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị phạt từ 08 năm đến 15 năm.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 để được tư vấn. Xin chân thành cảm ơn!