1. Thời hạn sử dụng của CMND là bao lâu?
Thời gian hiệu lực của Chứng minh nhân dân (CMND) theo quy định tại Mục 4 Phần I của Thông tư 04/1999/TT-BCA(C13) là 15 năm. Đối với Chứng minh nhân dân có thời hạn sử dụng, Chứng minh công dân sẽ tuân theo nguyên tắc sau đây:
- Thẻ CCCD phải được thay đổi khi công dân đạt đến các độ tuổi là 25, 40 và 60.
- Trong trường hợp thẻ CCCD được cấp, thay đổi, hoặc cấp lại trong khoảng thời gian 2 năm trước khi đến tuổi quy định, thì thẻ vẫn có hiệu lực đến khi đến tuổi thay đổi thẻ tiếp theo.
2. Các lưu ý quan trọng đối với những người vẫn đang sử dụng CMND
Gần đây, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Căn cước, đồng thời thay đổi tên thẻ từ Căn cước công dân thành thẻ Căn cước. Liệu Luật mới này sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với những người đang sử dụng Chứng minh nhân dân (CMND)?
Chú ý 1: Từ ngày 01/01/2025, việc sử dụng Chứng minh nhân dân (CMND) sẽ không còn khả dụng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật Căn cước, CMND với thời hạn sử dụng sẽ chỉ có giá trị đến hết ngày 31/12/2024. Điều này có nghĩa là từ ngày 01/01/2025, CMND chính thức không còn hiệu lực. Các văn bản pháp lý đã được cấp sử dụng thông tin từ CMND vẫn giữ nguyên giá trị.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 46 Luật Căn cước cũng quy định rằng cơ quan quản lý không được yêu cầu thủ tục đặc biệt để thay đổi hoặc điều chỉnh thông tin trên CMND và thẻ Căn cước công dân đã được cấp. Thông tin như số và ngày, tháng, năm cấp, nơi cấp, thời hạn sử dụng của CMND sẽ được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Hiện tại, thông tin từ CMND thường được sử dụng trong nhiều loại giấy tờ như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế, phần mềm VssID, đăng ký thuế, hộ chiếu, và thông tin tài khoản ngân hàng. Thay vì phải thực hiện các thủ tục riêng để điều chỉnh thông tin giữa các loại giấy tờ khi chuyển từ CMND sang thẻ Căn cước, người dân sẽ có thể cập nhật thông tin trực tiếp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo thuận lợi cho các thủ tục hành chính. Khi muốn truy cập thông tin về CMND, cá nhân có thể trực tiếp kiểm tra trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, và thông tin của người khác sẽ được truy cập khi có sự đồng ý từ cơ quan quản lý căn cước và cá nhân đó (trừ trường hợp người chưa thành niên, bị chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi). Thừa kế của người đã chết cũng như cha mẹ và người giám hộ của người chưa thành niên, người bị mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi sẽ có thể kiểm tra thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư về người đó.
Chú ý 2: Dù đã hết hạn, CMND vẫn có thể sử dụng đến ngày 30/6/2024
Một điều đáng lưu ý khi thảo luận về tác động của Luật mới đối với người sử dụng CMND là quyết định kéo dài thời hạn sử dụng cho những CMND đã hết hạn.
Theo khoản 3 Điều 46 của Luật Căn cước, các thẻ CCCD và CMND hết hạn sử dụng từ ngày 15/01/2024 đến trước ngày 30/6/2024 vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng cho đến hết ngày 30/6/2024. Điều này có nghĩa là những CMND đã hết hạn từ ngày 15/01/2024 đến trước ngày 30/6/2024 vẫn có thể tiếp tục sử dụng cho đến hết ngày 30/6/2024.
Để giải thích lý do của quy định này, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh đã nhấn mạnh rằng mục tiêu của nó là tránh gây phiền hà cho người dân, ngăn chặn việc phải thay đổi giấy tờ tùy thân như CMND hay thẻ Căn cước công dân nhiều lần khi có nhu cầu chuyển từ thẻ Căn cước cũ sang thẻ Căn cước mới, đặc biệt khi Luật này có hiệu lực từ ngày 15/01/2024.
3. Những rủi ro khác khi vẫn tiếp tục sử dụng CMND
Sử dụng đồng thời Chứng minh nhân dân (CMND) cũ, Chứng minh công dân (CCCD) cũ và CCCD gắn chip có thể tạo ra nhiều vấn đề phức tạp cho người dân.
Theo quy định tại Khoản 8 Điều 5 của Thông tư 60/2021/TT-BCA về trình tự cấp đổi, cấp lại thẻ CCCD, CMND và CCCD cũ sẽ bị thu hồi khi công dân thực hiện thủ tục đổi CMND sang CCCD gắn chip hoặc đổi thẻ CCCD gắn chip. Từ thời điểm này, CMND và CCCD cũ không còn giá trị sử dụng nữa, từ ngày công dân nhận được CCCD gắn chip.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người dân có thể khai báo thất lạc thẻ (rồi sau đó tìm thấy thẻ cũ), không giao nộp thẻ hoặc cán bộ thực hiện thủ tục có thể quên thu hồi (hoặc cắt góc) nên họ vẫn giữ nguyên CMND và CCCD cũ và tiếp tục sử dụng chúng song song với CCCD gắn chip.
Việc sử dụng đồng thời CMND, CCCD cũ và CCCD gắn chip có thể mang đến những rủi ro tiềm ẩn và tạo ra không thuận lợi cho công dân.
(1) Sử dụng CMND cũ khi đã có CCCD gắn chip sẽ bị phạt lên đến 500.000 đồng.
Như đã mô tả trước đó, sau khi chuyển đổi từ CMND sang CCCD gắn chip, CMND cũ mất giá trị kể từ khi người dân nhận được CCCD gắn chip. Trong quá trình thực hiện các giao dịch và thủ tục hành chính, việc tiếp tục sử dụng CMND cũ có thể dẫn đến việc bị phạt về mặt hành chính do vi phạm quy định của pháp luật về cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân. Theo Khoản 1 Điều 10 của Nghị định 144 năm 2021, mức phạt có thể là cảnh cáo hoặc mức phạt tiền từ 300.000 - 500.000 đồng.
(2) Việc sử dụng CMND hết hiệu lực sau khi công dân có CCCD gắn chip mới có thể gây ra rủi ro và tranh chấp pháp lý.
Khi số CMND và số CCCD gắn chip mới không giống nhau, việc sử dụng CMND hết hiệu lực trong các giao dịch, hợp đồng, hoặc thủ tục hành chính có thể đưa ra các hậu quả không mong muốn. Hợp đồng đã ký có thể trở nên vô hiệu khi một bên sử dụng CMND hết hiệu lực. Đồng thời, có thể phát sinh tranh chấp khi văn bản thỏa thuận không được công nhận do một bên sử dụng CMND đã hết hiệu lực. Để tránh những rủi ro và tranh chấp tiềm ẩn, người dân nên chỉ sử dụng thẻ CCCD gắn chip đã được cấp mới và tích hợp đầy đủ thông tin.
(3) Cập nhật thông tin tài khoản ngân hàng là quan trọng khi người dân đã đổi từ CMND sang CCCD gắn chip.
Trong quá trình thực hiện giao dịch tại ngân hàng, việc xuất trình giấy tờ tùy thân là cần thiết. Do đó, sau khi có CCCD gắn chip mới, người dân cần ngay lập tức cập nhật số CCCD mới với ngân hàng. Quy trình cập nhật thông tin tài khoản khá đơn giản, chỉ cần mang theo giấy xác nhận số CMND 9 số hoặc CMND cũ, thẻ CCCD mới đến ngân hàng mà khách hàng đã mở tài khoản. Nhân viên giao dịch sẽ cung cấp tờ khai, và sau khi khách hàng điền đầy đủ thông tin yêu cầu, vấn đề sẽ được giải quyết.
(4) Cập nhật thông tin sổ Bảo hiểm xã hội (BHXH) và thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) là một bước quan trọng khi chuyển đổi từ CMND 9 số sang thẻ CCCD gắn chip 12 số. Tuy nhiên, sổ BHXH và thẻ BHYT không trực tiếp thể hiện thông tin số CMND/CCCD, và công dân không bị buộc phải đổi sổ BHXH và thẻ BHYT mới khi thực hiện việc này. Tuy vậy, để có thể tiến hành các thủ tục liên quan như tra cứu lịch sử tham gia BHXH, kiểm tra hạn sử dụng thẻ BHYT, người dân cần cập nhật thông tin trong hồ sơ của họ liên quan đến BHXH và BHYT.
(5) Thông báo với cơ quan thuế là bước quan trọng theo quy định tại Điều 36 của Luật Quản lý thuế.
Khi có bất kỳ thay đổi nào về thông tin đăng ký thuế, bao gồm cả số CMND và CCCD, người nộp thuế cần thông báo ngay lập tức cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Do đó, khi chuyển từ CMND cũ sang CCCD gắn chip, người dân cần thực hiện thủ tục thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
(6) Cập nhật thông tin trên sổ đỏ là cần thiết khi người dân thực hiện việc chuyển đổi từ CMND cũ sang CCCD gắn chip.
Thông tư 23/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định rõ về thông tin trên giấy chứng nhận, bao gồm họ và tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân (nếu có), địa chỉ thường trú. Mặc dù thay đổi số CMND/CCCD không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất và không yêu cầu người sử dụng đất phải cập nhật thay đổi, nhưng để tránh rủi ro trong các giao dịch mua bán trong tương lai, người dân có thể xem xét việc điều chỉnh thông tin để khớp với số thẻ CCCD gắn chip mới.
Bài viết liên quan: Chỉ có số CMND có vay tiền được không theo quy định pháp luật?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!