Trả lời:

1. Phương pháp đường cơ sở thông thường

Phương pháp đường cơ sở thông thường được đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị Lahay về pháp điển hoá luật quốc tế năm 1930, sau đó được ghi nhận trong Điều 3 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp và được nhắc lại tại Điều 5 UNCLOS 1982. Đường cơ sở thông thường chủ yếu được áp dụng đối với quốc gia có bờ biển tương đối bằng phang, không có đoạn lồi lõm ven bờ và ngấn nước thuỷ triều xuống thấp nhất thể hiện khá rõ ràng.

Theo phương pháp này, quốc gia ven biển muốn vạch đường cơ sở phải xác định được ngấn nước thuỷ triều xuống thấp nhất chạy dọc theo bờ biển. UNCLOS 1982 không quy định cụ thể cách thức hay phương pháp xác định ngấn nước thủy triều thấp nhất mà để ngỏ cho các quốc gia tự xác định dựa trên các kết quả nghiên cứu thiên văn và ra tuyên bố về đường cơ sở của quốc gia mình. Trong trường hợp quốc gia muốn thay thể, sửa đổi các tuyên bố trước đó trên hải đồ về đường cơ sở thì sự thay đổi này chỉ có hiệu lực khi quốc gia chính thức đưa ra một tuyến bố mới về sự thay đổi đó.

Việc xác định đường cơ sở thông thường có ưu điểm là phản ánh tương đối chính xác địa hình bờ biển đồng thời góp phần hạn chế sự mở rộng thái quá các vùng biển của quốc gia ven biến. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế như:

+ Tính chính xác của điểm, tọa độ được xác định dựa vào ngấn nước thuỷ triều thấp nhất sẽ không cao vì điểm, tọa độ này chủ yếu do quốc gia ven biển tự xác định và công bố;

+ Phương pháp này khó áp dụng đối với các vùng có địa hình bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm hoặc có nhiều đảo ven bờ.

2. Phương pháp đường cơ sở thẳng

Cách xác định đường cơ sở thẳng bắt nguồn từ quy định có tính chất tập quán liên quan đến vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy đầu những năm 50 của thế kỉ XX và được ghi nhận trong phán quyết của Toà án công lý quốc tế (ICJ) ngày 18/12/1951. Trước thực tiễn bờ biển Na Uy lồi lõm, khoét sâu với nhiều đảo, đảo đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm, được gọi là Skjaergaar. Tòa cho rằng nếu phương pháp ngấn nước thuỷ triều thấp nhất có thể áp dụng cho bờ biển bằng phẳng không có đảo ven bờ, phương pháp này không còn thích hợp đối với những bờ biển tương tự như bờ biển Na Uy. Vì vậy, sau khi xem xét lập luận của các bên đồng thời có tính đến địa hình, địa mạo thực tế bờ biển của Na Uy, Tòa đã khẳng định: “... Na Uy có thể vạch các đường cơ sở thẳng như vậy (...) chúng có thể được vạch qua các vịnh, các điểm uốn cong của bờ biển, các khu vực biển giữa các đảo, đá, đá ngầm để từ đó xác định bề rộng lãnh hải một cách đơn giản hơn” và đường cơ sở thẳng do Na Uy vạch ra theo Nghị định năm 1935 "... không trái với luật quốc tế”. Phán quyết này của ICJ đã mở đầu cho việc công nhận rộng rãi phương pháp đường cơ sở thẳng trong cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, tiêu chuẩn của đường cơ sở thẳng do Na Uy đưa ra, qua phán quyết của Toà, đã trở thành yêu cầu chung được luật pháp quốc tế thừa nhận. Các yêu cầu này đã được pháp điển hoá trong Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp, sau đó được nhắc lại trong Điều 7 UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Điều 7 UNCLOS 1982 đã bổ sung thêm hoàn cảnh thực tế cho phép quốc gia ven biển được xác định đường cơ sở thẳng tại các bờ biển không ổn định và khả năng sử dụng mực nước thuỷ triều thấp nhất tại bãi cạn lúc nổi lúc chìm mà trên đó không có đèn biển hoặc công trình tương tự, miễn là đường cơ sở thẳng đó được cộng đồng quốc tế công nhận.

>> Xem thêm:  Công pháp quốc tế là gì ? Khái niệm công pháp quốc tế được hiểu như thế nào ?

Nhìn chung, việc vạch đường cơ sở thẳng sẽ ít nhiều khắc phục được những hạn chế của phương pháp đường cơ sở thông thường, đồng thời phương pháp này cũng dễ áp dụng với các quốc gia có bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu... Tuy nhiên, cho đến nay, điều kiện cho việc áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng vẫn chưa được giải thích rõ ràng và chính thức dẫn đến việc xác định đường cơ sở thẳng tại nhiều nơi có sự khác nhau. UNCLOS 1982 đưa ra các điều kiện cho việc xác định đường cơ sở thẳng, theo đó có thể chia các điều kiện này làm hai (nhóm chính là: nhóm điều kiện về địa hình và nhóm điều kiện về phương pháp xác định.

4. Nhóm điều kiện về địa hình để xác định đường cơ sở thẳng

Liên quan đến điều kiện cho việc xác định đường cơ sở thẳng, có thể thấy Điều 7 UNCLOS 1982 gần như kế thừa lại Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp, đồng thời có bổ sung thêm hoàn cảnh mới, theo đó có 03 hoàn cảnh địa lý cụ thể đã được đưa ra khi quốc gia ven biển muốn xác định đường cơ sở theo phương pháp đường cơ sở thẳng:

4.1 Bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm

Trên thực tế, UNCLOS 1982 không đưa ra định nghĩa cụ thể về thuật ngữ “bị khoét sâu và lồi lõm” trừ khái niệm “vùng lõm sâu” tương tự trong định nghĩa về vịnh do bờ biển của một quốc gia bao bọc tại Điều 10. Dựa trên thực tiễn xác định của các quốc gia cũng như phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế, Hoa Kỳ và ủy ban pháp luật quốc tế đã đưa ra khuyến nghị rằng cụm từ “bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm” nên thoả mãn tất cả các đặc tính sau1:

+ Bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm phải có ít nhất từ 03 vùng lõm sâu (UNCLOS 1982 không chì rõ cần phải có bao nhiêu vùng lõm sâu xuất hiện trên khu vực bờ biển của quốc gia. Tuy nhiên, tiêu chuẩn phài có nhiều hơn một vùng lõm sâu trong khu vực bờ biển đã được nhiều chuyên gia khuyến cáo để tránh tình trạng các quốc gia áp dụng quy chế pháp lý của vịnh. Đề xuất 03 là giới hạn tối thiểu cần thiết để phân biệt giữa vùng lõm sâu và các vịnh);

+ Các vùng lõm sâu này phải nằm gần nhau;

+ Chiều sâu của từng vùng lõm tính từ đường cơ sở thẳng được đề nghị đóng cửa đổ ra biển phải lớn hơn một nửa chiều dài của đoạn đường cơ sở đó.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

4.2 Có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển

Với hoàn cảnh địa lý này, UNCLOS 1982 cũng không đưa ra bất kì cách giải thích nào nhằm làm sáng tỏ các cụm từ “chuỗi đảo”, “nằm sát ngay” hay “dọc bờ biển”... Chính vì vậy, theo khuyến nghị của Hoa Kỳ và ủy ban pháp luật quốc tế, để được coi là chuỗi đảo phải có ít nhất từ 03 đảo trở lên và phải thoả mãn một số yêu cầu sau:

+ Khoảng cách giữa đất liền với đảo không vượt quá 24 hải lý;

+ Mỗi đảo trong chuỗi cách đảo khác cũng trong chuỗi mà đường cơ sở thẳng sẽ được vạch qua khoảng cách không quá 24 hải lý;

+ Chuỗi đảo này phải chắn ít nhất 50% đường bờ biển liên quan.

- Có điều kiện thiên nhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của bờ biển như sự hiện diện của các châu thổ và các đặc điểm tự nhiên khác: Hoàn cảnh địa lý này đề cập đến các đường bờ biển có sự thay đổi tương đối theo thời gian (như sự sạt lở, bồi đắp...) làm ảnh hưởng tới việc xác định ngấn nước thủy triều thấp nhất để vạch đường cơ sở thông thường.

Có thể thấy rằng, nếu bờ biển của quốc gia ven biển không đáp ứng được điều kiện về mặt địa hình kể trên thì đường cơ sở thẳng sẽ không được áp dụng, thay vào đó, quốc gia ven biển có thể lựa chọn áp dụng phương pháp đường cơ sở thông thường đã được ghi nhận tại Điều 5 UNCLOS 1982.

4.3 Nhóm điều kiện về phương pháp xác định đường cơ sở thẳng

- Tuyển đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức được đặt dưới chế độ nội thuỷ.1 Cụm từ “xu hướng chung của bờ biển” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1951 trong phán quyết của ICJ liên quan đến vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy. Tuy nhiên, ICJ cũng lưu ý rằng “nguyên tắc xu thế chung của bờ biển không có một sự chính xác toán học nào” – Xem Khoản 2 Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp và khoản 3 Điều 7 UNCLOS 1982. Ngoài ra, ủy ban pháp luật quốc tế cũng khuyến cáo rằng để được coi là chạy theo hướng chung của bờ biển thì chiều dài của các đoạn đường cơ sở thẳng không nên vượt quá 60 hải lý và góc lệch lớn nhất giữa đoạn cơ sở thẳng với bờ biển không quá 20 độ.1

- Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có đèn biển hoặc thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế (Khoản 3 Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp và khoản 4 Điều 7 UNCLOS 1982).

- Việc xác định đường cơ sở thẳng không được làm cho lãnh hải của quốc gia khác bị tách rời khỏi biển cả hoặc vùng đặc quyền kinh tế (Khoản 2 Điều 8 UNCLOS 1982).

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

Đường cơ sở thẳng khi xác định phải tuân theo các điều kiện nêu trên. Tuy nhiên, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà tầm quan trọng của nó đã được chứng minh qua quá trình sử dụng lâu dài. Điều này được xem như một trường họp ngoại lệ khi xác định đường cơ sở thẳng theo quy định tại Điều 7. Quốc gia ven biển có thể kéo các đoạn cơ sở thẳng đến đảo (nhóm đảo) xa bờ mà không cần xem xét đến việc phải chạy theo xu thế chung của bờ biển hay phải nằm trong khoảng cách hai lần chiều rộng lãnh hải nếu họ chứng minh được rằng quá trình sử dụng lâu dài khu vực này đã chứng tỏ lợi ích kinh tế của khu vực biển xung quanh đảo (nhóm đảo) đó có ý nghĩa và tầm quan trọng sống còn đối với quốc gia.

Trong trường hợp việc sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng dẫn đến sáp nhập những vùng biển trước kia vốn là bộ phận của lãnh hải vào nội thuỷ thì quyền đi qua không gây hại dành cho tàu thuyền nước ngoài vẫn được đảm bảo tại vùng biển này theo đúng tinh thần của Công ước (Khoản 5 Điều 4 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp và khoản 6 Điều 7 UNCLOS 1982).

Như vậy, yêu cầu của phương pháp đường cơ sở thẳng là việc áp dụng những điều kiện trên phải được đặt trong địa hình tổng thể của bờ biển và cần được giải thích một cách hợp lý, tránh tình trạng lạm dụng với mục đích đẩy đường cơ sở lùi xa ra phía biển. Ý tưởng của các nhà soạn thảo UNCLOS 1982 dường như tương đối rõ ràng: không làm lại tự nhiên bằng cách thay đổi tpàn bộ địa hình bờ biển trong mọi hoàn , cảnh, mọi tình huống. Ở những nơi bờ biển quá lồi lõm, khúc khuỷu, nhiệm vụ đặt ra là thay đổi cho đơn giản mà vẫn phù hợp với địa thể chung của bờ biển. Đơn giản hoá nhưng không lạm dụng, làm biến đổi sai lệch: đó chính là ý nghĩa của phương pháp đường cơ sở thẳng mà UNCLOS 1982 muốn hướng tới.

Ngoài hai phương pháp kể trên, Điều 14 UNCLOS 1982 cũng ghi nhận: “Quốc gia ven biển, tùy theo hoàn cảnh khác nhau, có thể vạch ra các đường cơ sở theo một hay nhiều phương pháp được trù định ở các điều nói trên”.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế