Trả lời:

1. Cách xác định đường cơ sở của Thụy Điển

Thụy Điển là một quốc gia ở Bắc Âu tiếp giáp với Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Ốresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Bien Baltic và Biển Kattegat. Với diện tích 449.964 km2, lãnh thổ của Thụy Điển bao gồm lãnh thổ đất liền và các đảo. Hai đảo lớn thuộc về Thụy Điển là Gotland (khoảng 3.000km2) và ồland (khoảng 1.300km2), ngoài ra còn có khoảng 221.800 đảo.

Dựa trên địa hình bờ biển của quốc gia, ngày 03/6/1966, Thụy Điển thông qua Luật số 374 về nội thuỷ và lãnh hải. Theo Điều 4 của Luật này, đường cơ sở của Thụy Điển được xác định theo phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền những điểm nhô ra nhất của bờ biển ở ngấn nước thuỷ triều thấp nhất. Tại một số điểm, đường cơ sở được xác định tới các đảo, bãi cạn nửa nổi nửa chìm nếu như khoảng cách từ bờ tới các đảo, bãi cạn nửa nổi nửa chìm đó không vượt quá 4 hải lý.

Quy định của Điều 4 Luật số 374 về nội thuỷ và lãnh hải của Thụy Điển được cụ thể hoá bởi Lệnh số 375 được ban hành cùng ngày. Lệnh số 375 ngoài việc xác định cụ thể tọa độ các điểm trong hệ thống đường cơ sở của Thụy Điển còn bổ sung thêm quy định đổi với các cảng biển, theo đó đường cơ sở sẽ được xác định tại điểm nhô ra nhất của các công trình cảng biển.

Hệ thống đường cơ sở của Thụy Điển được xác định qua 124 điểm cơ sở với tổng chiều dài khoảng 1.128 hải lý. Chiều dài trung bình của mỗi đoạn đường cơ sở là 10 hải lý. Chiều dài đoạn đường cơ sở ngắn nhất là 1 hải lý và dài nhất là 30 hải lý.

Đường cơ sở của Thụy Điển được xác định tương tự như các quốc gia trong khu vực như Phần Lan, Na Uy và cũng phù hợp với thực tiễn xác định đường cơ sở của các quốc gia Tây Ầu. Chiều dài mỗi đoạn đường cơ sở ngắn, các điểm cơ sở không cách quá xa bờ biển. Điều này làm cho đường cơ sở của Thụy Điển đi theo xu hướng chung của bờ biển. Đường cơ sở của Thụy Điển bao bọc gần hết đường bờ biển của quốc gia này, trừ một số khu vực chưa được xác định như ở bờ biển phía nam Thụy Điển và bờ biển phía Tây đảo Gotland. Ngoài một số ít điểm cần phải tiếp tục hoàn thiện (sự chưa khép kýn của đường cơ sở), cách xác định đường cơ sở của Thụy Điển hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Giơnevơ 1958 và UNCLOS 1982, mặc dù vào thời điểm Thụy Điển ban hành các văn bản pháp luật xác định hệ thống đường cơ sở của mình, Thụy Điển chưa phải là thành viên Công ước Giơnevơ 1958.

2. Cách xác định đường cơ sở của Myanmar

Myanmar là một quốc gia nằm ở phía Tây bán đảo Trung Nam, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á với 676.577km2 và giáp với các quốc gia là Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Lào và Bangladesh. Myanmar gồm 7 bang với 53 triệu dân. Bờ biển của quốc gia này dài gần 2.000km với sự xuất hiện của các đảo và chuỗi đảo gần bờ, địa hình bờ biển không ổn định, có sự lồi lõm và khúc khuỷu. Myanmar tham gia UNCLOS 1982 vào ngày 21/5/1996.

Myanmar đưa ra tuyên bố về hệ thống đường cơ sở thẳng vào ngày 15/11/1968, yêu sách này đã được sửa đổi vào ngày 09/4/1977 bởi đạo luật số 3 của quốc gia này. Theo đó, đường cơ sở của Myanmar chủ yếu được xác định theo phương pháp đường cơ sở thẳng với chiều dài lên tới 826,4 hải lý, trừ 30 hải lý đường bờ biển (từ phía nam và điểm cuối là biên giới trên đất liền với Bangladesh) được xác định theo đường cơ sở thông thường.

Bờ biển Arakan của Myanmar có địa hình khúc khuỷu, lồi lõm, đặc biệt là đoạn từ điểm d (phía Tây của đảo đá Henry) cho đến điểm h (đảo Koronge). Sự xuất hiện của các đảo và chuỗi đảo gần bờ tại khu vực này cũng cho thấy sự phù hợp của Myanmar trong việc lựa chọn cách xác định đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải cho vùng biển của quốc gia mình (từ điểm a đến điểm d của đường bờ biển Arakan và từ điểm c đến điểm k của bờ biển Tenasserim).

10 đoạn đường cơ sở đầu tiên từ điểm a đến điểm k có tổng chiều dài là 347 hải lý, các điểm được chọn cách bờ biển của Myanmar từ 2 đến 20 hải lý, góc lệch của các đoạn thẳng của đường cơ sở so với hướng chung của bờ biển từ 2° đến 15°. Theo quy định của UNCLOS 1982, điểm được chọn không được xuất phát từ các bãi cạn nửa chìm nửa nổi (không thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước), điểm cuối cùng được chọn trong đường cơ sở tại bờ biển Arakan nằm trên một rạn san hô nhưng trên đó lại có một ngọn hải đăng gần vùng châu thổ Irrawaddy, cách bờ biển 13,8 hải lý (công trình biển thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước). Vì vậy, các điểm được chọn trong khu vực này đều phù hợp với UNCLOS 1982 và các khuyến nghị được đưa ra về khoảng cách từ bờ biển đến điểm được chọn cũng như khoảng cách giữa các điểm được chọn với nhau.

Trước cửa vịnh Martaban có 02 điếm, trong đó điểm a cũng có vị trí trùng với điểm k của đường cơ sở bờ biển Arakan. Khoảng cách giữa 02 điểm a và b của đoạn đường cơ sở này lên tới 222,3 hải lý. Phía Myanmar dựa vào danh nghĩa lịch sử của quốc gia trong việc xác định vịnh Martaban là một bộ phận cấu thành của nội thủy và thuộc chủ quyền của quốc gia, được sử dụng lâu dài, có tính lịch sử và gắn với các lợi ích về mặt kinh tế của quốc gia này theo đúng tinh thần của khoản 5 Điều 7 UNCLOS 1982. Có nhiều quan điểm cho rằng, việc xác định đường cơ sở đi ngang qua cửa vịnh Martaban chính là cánh cửa đóng lối vào vịnh mà lẽ ra phải được xác định là nơi các tàu thuyền của quốc gia khác được hưởng các quyền theo thông lệ và tập quán hàng hải quốc tế. Những quan điểm đó cũng cho rằng việc Myanmar dựa vào quy định tại khoản 5 Điều 7 của UNCLOS 1982 cũng không có chứng cứ để chứng minh được những lợi ích kinh tế riêng biệt thực sự có ý nghĩa với quốc gia được sử dụng trong một quá trình lâu dài, hơn nữa, khoảng cách giữa hai điểm được chọn lên tới 222,3 hải lý. Tuy nhiên, việc đưa ra tuyên bố năm 1968 của Myanmar đối với tuyến đường cơ sở tại vịnh Martaban cũng dựa trên cơ sở tập quán quốc tế về xác định đường cơ sở thẳng cũng như quy định tại Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp, đồng thời căn cứ vào vị trí địa lý, các yếu tố về điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện lịch sử của quốc gia này.

Tuyển đường cơ sở tiếp theo nằm kéo dài theo bờ biển Tenasserim. Trong số các điểm được chọn để xác định đường cơ sở tại khu vực này, bắt đầu từ điểm c (phía Tây Long island) với góc ban đầu so với hướng của bờ biển lệch 9° và tới điểm f (Great Western Torres) thì lệch 38°, đồng thời khoảng cách từ điểm f đến bờ biển là 126 hải lý. Ở giữa điểm f đến điểm g có sự tồn tại của rất nhiều các đảo nhỏ có thể được chọn để xác định đường cơ sở thẳng, tuy nhiên Myanmar lại lựa chọn điểm ngoài cùng nhô ra xa nhất phía Tây Bắc của North Twin tạo thành góc lệnh 12° so với hướng của bờ biển. Từ điểm h (phía Tây South Twin) đến điểm k, các đoạn đường cơ sở dần trở lại hướng của bờ biển và kết thúc tại phía Tây của đảo Murray.

Với 21 điểm được chọn tạo thành 20 đoạn đường cơ sở có tổng chiều dài 826 hải lý, khoảng cách trung bình của các đoạn thẳng là 50,7 hải lý, trong đó có đoạn đạt chiều dài lớn nhất là 222,3 hải lý (đoạn đường cơ sở ở cửa vịnh Martaban), không có điểm nào trong đường cơ sở nằm trên đất liền. Do đó, tuyên bố về đường cơ sở của Myanmar đã gặp phải sự phản đối của một số quốc gia, đậc biệt là đối với đoạn đường cơ sở tại vịnh Martaban.

3. Cách xác định đường cơ sở của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn hòn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của châu Á. Các đảo chính của Nhật Bản chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokaido, Honshu, Shikoku và Kyushu. Ngoài ra, lãnh thổ Nhật Bản còn có cả quần đảo^Ryuku, bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía nam Kyushu. Chiếu theo các quy định của UNCLOS 1982, Nhật Bản không phải là quốc gia quần đảo, do vậy Nhật Bản không áp dụng phương pháp đường cơ sở quần đảo để xác định các vùng biển của mình.

Năm 1977, Nhật Bản ban hành Luật về lãnh hải trong đó quy định chiều rộng lãnh hải của Nhật Bản là 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Đường cơ sở của Nhật Bản theo Luật này được xác định đồng thời bằng cả hai phương pháp: đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng. Để cụ thể hoá Luật về lãnh hải, Nhật Bản tiếp tục ban hành Nghị định số 210 ngày 17/6/1977, theo đó đường cơ sở của Nhật Bản được xác định theo ngấn nước thuỷ triều xuống thấp nhất dọc bờ biển của các đảo, trừ ba đoạn đường cơ sở thẳng tại Kwanmon và xung quanh Shikoku.

Tuy nhiên, năm 1996, Nhật Bản sửa đổi Luật về lãnh hải cũng như Nghị định số 210 bằng Luật về lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải để chuyển toàn bộ hệ thống đường cơ sở thông thường thành hệ thống đường cơ sở thẳng. Hệ thống đường cơ sở thẳng của Nhật Bản hiện nay gồm 15 nhóm đường cơ sở, nối 194 điểm dọc bờ biển của các đảo tạo thành 162 đoạn đường cơ sở với chiều dài mỗi đoạn từ 0,09 hải lý đến 85,2 hải lý.

Nhật Bản tuyên bố sửa đổi hệ thống đường cơ sở của mình theo Luật về lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải năm 1996. Tuy nhiên, với một số điểm cơ sở được cho là xác định chưa phù hợp (chẳng hạn được xác định tại các đảo nhỏ ở cách xa bờ biển như các đảo ở bờ biển phía đông Kyushu), nhiều đoạn đường cơ sở thì lại quá dài (có đoạn lên tới hơn 85 hải lý) làm cho một số đoạn đường cơ sở của Nhật Bản đi lệch xa xu hướng chung của bờ biển. Đường cơ sở thẳng của Nhật Bản cũng vấp phải sự phản đối của một số quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Hàn Quốc - quốc gia có các hiệp định về khai thác tài nguyên với Nhật Bản. Nhật Bản cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống đường cơ sở của mình trên tinh thần phù hợp với UNCLOS 1982 để đảm bảo chủ quyền và quyền chủ quyền của mình trên các vùng biển nhưng cũng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các quốc gia khác trong khu vực.

4. Cách xác định đường cơ sở của Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia ven biển có diện tích đất liền trên 300.000km2 với đường bờ biển dài hơn 3.260km và tiếp giáp với nhiều quốc gia khác nhau trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia... Nhằm hoạch định ranh giới các vùng biển của quốc gia, đồng thời xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, ngay từ những năm đầu sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp lý quan trọng tuyên bố về các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia. Riêng đối với việc xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, Việt Nam đã chính thức xác nhận cách xác định đường cơ sở trong Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam (Tuyên bố năm 1982) ngày 12/11/1982, trong đó chỉ rõ: “Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gẫy khúc nối liền các điểm có tọa độ ghi trong phụ lục đính theo Tuyên bố này”. Quy định này sau đó về cơ bản được nhắc lại trong Điều 8 Luật Biển Việt Nam năm 2012, đó là: “Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bổ. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.

Với nội dung trong Điều 8 Luật Biển Việt Nam năm 2012, Việt Nam đã tái khẳng định việc sử dụng cách thức xác định đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải đúng vớitinh thần mà Đảng và Nhà nước đã xác định trong các Tuyên bố năm 1977 và Tuyên bố năm 1982 đã đưa ra. Điều này một lần nữa khẳng định sự nhất quán của Việt Nam qua các thời kỳ khi xem xét các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình bờ biển nhằm hướng tới phương pháp xác định đường cơ sở phù hợp với quốc gia và các quy định của pháp luật quốc tế.

Hệ thống đường cơ sở ven bờ lục địa của Việt Nam được mô tả là một tuyến đường cơ sở thẳng gồm 10 đoạn nối 11 điểm cơ sở bắt đầu từ điểm AO - “điểm tiếp giáp 0 của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Campuchia nằm giữa biển, trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và PouLo Wai...”1 đến điểm All thuộc đảo cồn cỏ, tỉnh Bình Trị Thiên (nay thuộc tỉnh Quảng Trị).

Tổng chiều dài 10 đoạn đường cơ sở thẳng của Việt Nam là 846 hải lý, gộp vào nội thủy của Việt Nam một khu vực rộng 27.000 hải lý vuông (tương đương 93.000km2). Vùng nội thủy rộng nhất, không kể Vịnh Bắc Bộ, là vùng nằm giữa Hòn Khoai, Côn Đảo, Hòn Hải, Hòn Đôi, với diện tích trên 7 vạn km2. Các điểm cơ sở trong tuyến đường cơ sở của Việt Nam chủ yếu được xác định nằm trên các đảo tại ngấn nước thủy triều thấp nhất, ngoại trừ điểm A8 được xác định nằm trên mũi Đại Lãnh.

Bảng tọa độ các điểm cơ sở trong hệ thống đường cơ sở của Việt Nam theo Tuyên bố năm 1982

Điểm

Vị trí

Vĩ độ (N)

Kinh độ (E)

AO

Nằm trong vùng nước lịch sử chung giữa Việt Nam và Campuchia

AI

Tại Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang

09° 15'0

103° 27'0

A2

Tại Hòn Đá lẻ ở đông nam Hòn Khoai, tỉnh Minh Hải

08° 22'8

104° 52'4

A3

Tại Hòn Tài Lớn, Côn Đảo, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo

08° 37’8

106° 37'5

Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam ngày 12/11/1982.

A4

Tại Hòn Bông Lang - Côn Đảo

08° 38'9

106° 40'3

A5

Tại Hòn Bảy cạnh - Côn Đảo

08° 39’7

106°42T

A6

Tại Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý), tỉnh Thuận Hải

09° 58'0

109° 05'0

A7

Tại Hòn Đôi, tình Thuận Hải

12° 39’0

109° 28’0

A8

Tại Mũi Đại Lãnh, tỉnh Phủ Khánh

12° 53'8

109° 27'2

A9

Tại Hòn Ông Căn, tinh Phú Khánh

13° 54'0

109° 21'0

A10

Tại đảo Lý Sơn, tỉnh Nghĩa Bình

15° 23'1

109° 09’0

All

Tại đảo Cồn cỏ, tình Bình Trị Thiên

17° 10'0

107° 20'6

Về cơ bản, tuyến đường cơ sở thẳng của Việt Nam là phù hợp với các quy định của UNCLOS 1982 về cách xác định đường cơ sở thẳng, cụ thể:

Thứ nhất, Điều 7 UNCLOS 1982 quy định phương pháp đường cơ sở thẳng chỉ có thể được áp dụng nếu bờ biển của quốc gia ven biển là khúc khuỷu, lồi lõm... Nghiên cứu bản đồ biển đảo nước ta, có thể nhận định bờ biển của Việt Nam hoàn toàn đủ điều kiện để sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng với tuyến đường bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm. Địa hình bờ biển bị chia cắt phức tạp, tồn tại nhiều vùng lõm liên tiếp như bờ biển miền Trung từ các tỉnh Thừa Thiên Huế, Đà Nằng trở vào... Ở một số nơi có chuỗi đảo chạy dọc và nằm sát ven bờ như bờ biển thuộc các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang... Ngoài ra, bờ biển nước ta còn có sự hiện diện của hai đồng bằng châu thổ lớn là Đồng bằng châu thổ sông Hồng và Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, đây là hai đồng bằng châu thổ có lưu lượng phù sa lớn trên thế giới. Những đặc điểm địa hình này của bờ biển là điều kiện cho phép Việt Nam áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng phù họp với quy định của UNCLOS 1982.

Thứ hai, về khoảng cách của các điểm cơ sở so với đất liền: Một số quốc gia có ý kiến rằng tuyến đường cơ sở của Việt Nam được kéo đến một số điểm có khoảng cách khá xa so với đất liền như: Khoảng cách trung bình từ các điểm AI (tại Hòn Nhạn), A3, A4, A5 (thuộc Côn Đảo) đến đất liền đều trên 50 hải lý, điểm A6 (thuộc Hòn Hải) cách bờ 74 hải lý... Các quốc gia này cũng cho rằng những đảo này quá xa bờ, vì vậy không thể được sử dụng khi kẻ đường cơ sở. về vấn đề này, Việt Nam hoàn toàn có thể lựa chọn các điểm cơ sở thuộc các đảo xa bờ phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 7 UNCLOS 1982:“... khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng”. Căn cứ vào nguồn tài nguyên và đa dạng sinh học quý giá, sản lượng thủy hải sản, sổ lượng các bãi khai thác cá, tôm ở khu vực Đông và Tây Nam Bộ, có thể thấy các đảo, nhóm đảo này có ý nghĩa kinh tế, xã hội đặc biệt quan trọng và gắn bó mật thiết, lâu dài với đất liền, trực tiếp quyết định và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của khu vực cũng như cả nước, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh những lợi ích kinh tế riêng biệt đó, các đảo, nhóm đảo mà nước ta sử dụng để vạch tuyến đường cơ sở cũng có ý nghĩa xã hội quan trọng, các đảo như Thổ Chu, Côn Đảo, nhóm đảo Phú Quý... đều là những nhóm đảo lớn, đông đúc dân cư sinh sống và từ lâu đã gắn bó mật thiết với đất liền về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng. Với ý nghĩa đó, Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng những đảo xa bờ này để vạch tuyến đường cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 7 UNCLOS 1982.

Sự tồn tại của các điểm cơ sở còn để ngỏ có ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định các vùng biển trong khu vực chồng lấn giữa Việt Nam và các nước, đồng thời cản trở quá trình xác định và thống nhất đường biên giới trên biển của Việt Nam. Chính vì vậy, trong thời gian tới, căn cứ vào UNCLOS 1982 và các quy định trong các thỏa thuận được ký kết giữa Việt Nam và các nước liên quan, Việt Nam cần tiếp tục chủ động đề nghị đàm phán, thúc đẩy nhanh quá trình hoạch định đường ranh giới biển tại các khu vực chồng lấn, đặc biệt là vùng chồng lẩn giữa Việt Nam và Campuchia nhằm từng bước hoàn thiện dần hệ thống đường cơ sở thẳng của Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việc xác lập và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển, đặc biệt trong bối cảnh các tranh chấp tại khu vực Biển Đông ngày càng phức tạp như hiện nay.

Như vậy, dựa trên các quy định của UNCLOS 1982 và địa hình bờ biển của mình, các quốc gia sẽ đưa ra các tuyên bố hoặc ban hành các văn bản pháp luật quốc gia để xác định hệ thống đường cơ sở của quốc gia theo phương pháp đường cơ sở thông thường hoặc phương pháp đường cơ sở thẳng hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Thực tiễn các quốc gia cho thấy, phương pháp đường cơ sở thẳng là phương pháp được áp dụng tương đối phổ biến. Phương pháp này cho phép các quốc gia có bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm hoặc có sự hiện diện của các hoàn cảnh đặc biệt (chuỗi đảo, vịnh, cửa sông...) có thể xác định các vùng biển của mình thuận lợi hơn. Tuy nhiên, phương pháp này cũng yêu cầu các quốc gia phải tuân thủ các quy định của UNCLOS 1982 để không mở rộng thái quá các vùng biển của quốc gia ảnh hưởng tới các quốc gia khác và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.

Luật Minh KHuê (sưu tầm & biên tập)