1. Khái niệm an ninh quốc gia ?

An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển vững mạnh về mọi mặt: chế độ xã hội, dân cư, không gian sinh tồn, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khả năng phòng thủ đất nước; sự bảo đảm an toàn, trật tự tổ chức đời sống lao động, sinh hoạt xã hội của dân cư theo pháp luật của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

An ninh quốc gia bao gồm các nội dung an ninh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hoá, xã hội, quốc phòng, đối ngoại... và trật tự, an toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội; an ninh đối với những cơ sở quan trọng nhất của sự sinh tồn và phát triển của quốc gia.

 

2. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

- Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.Đảm bảo nền độc lập dân tộc trong hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

- Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghiêm cấm việc truyền bá tư tưởng phản động, chống đối nhà nước, thực hiện những hành động đồ trụy gây ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa dân tộc. Toàn dân luôn đoàn kết, tuân thủ theo quy định của pháp luật.

- Bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

- Bảo vệ an ninh trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia.

- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh và ngăn chặn các hoạt động xâm phạm, ảnh hưởng đến nền an ninh quốc gia.

 

3. Danh sách các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Nhóm tội phạm nàỵ có tính chất nguy hiểm cho xã hội rất đặc biệt vì có khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội giữ vị trí quan trọng, có tính quyết định trong hệ thống các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Đó là an ninh quốc gia. Đảm bảo an ninh quốc gia là điều kiện cần thiết cho sự đảm bảo các quan hệ xã hội khác. Trong đó, an ninh quốc gia được hiểu “là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.

- Tội bạo loạn (Điều 112, bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017);

- Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113);

- Tội phá hoại cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 114);

- Tội phá hoại việc thực hiện câc chính sách kinh tế - xã hội (Điều 115);

- Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116);

- Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chông Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điêu 117);

- Tội phả rối an ninh (Điều 118);

- Tội chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119);

- Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120);

- Tội trốn đĩ nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121).

 

4. Đặc điểm của các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Các tội phạm nói trên có chung một số đặc điểm sau:

- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều xâm phạm một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau của an ninh quốc gia. Các quan hệ xã hội bị các tội xâm phạm an ninh quốc gia xâm phạm đều thuộc nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất. Đó là nhóm quan hệ xã hội về an ninh quốc gia với nội dung cụ thể đã được định nghĩa trong Luật an ninh quốc gia.

- Lỗi của người phạm tội của các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều là lỗi cố ý.

Nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lí của các tội cụ thể, dấu hiệu chù thể của tội phạm chỉ được trình bày khi chủ thể của tội phạm có dấu hiệu đặc biệt.

Từ sự khác nhau giữa các tội xâm phạm an ninh quốc gia có thể phân loại chương tội phạm này thành các nhóm khác nhau theo tiêu chí chủ thể của tội phạm hoặc theo tiêu chí phạm vi quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm phạm. Theo tiêu chí chù thể của tội phạm có thể phân các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành ba nhóm: Nhóm tội phạm có thể do bất cứ ai thực hiện không phụ thuộc vào quốc tịch, nhóm tội phạm chỉ có thể do người có quốc tịch Việt Nam thực hiện và nhóm tội phạm chỉ có thể do người không có quốc tịch Việt Nam thực hiện. Theo tiêu chí phạm vi quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm phạm có thể phân các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành hai nhóm: Nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tổng thể (có tính nguy hại tổng thể) và nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia thuộc từng lĩnh vực (có tính nguy hại cho từng lĩnh vực). Thuộc nhóm thứ nhất cỏ 3 tội danh là tội phản bội Tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và tội gián điệp. Trong đó, tội phản bội Tổ quốc và tội gián điệp có phạm vi xâm phạm an ninh quốc gia ở diện rộng có tính tổng thể còn tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân tuy chỉ xâm phạm một lĩnh vực an ninh nhưng là lĩnh vực chính trị nến cũng bị coi là xâm phạm an ninh quốc gia có tính tổng thể. Thuộc nhóm thứ hai là các tội danh còn lại. Các tội phạm này xâm phạm an ninh quổc gia thuộc các lĩnh vực khác nhau: An ninh lãnh thổ, an ninh trật tự, giữa những người có đặc điểm nhân thân khác nhau V.V..

Theo nguyên tắc thứ hai, việc xử lí về hình sự các tội xâm phạm an ninh quốc gia cần có sự phân hoá cao về trách nhiệm hình sự theo hướng nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, người ngoan cố chống đối đồng thời cũng khoan hồng đối với người bị ép buộc, bị lừa gạt, bị lôi kéo mà phạm tội nhưng đã tự thú, thành khẩn khai báo. Thể hiện nguyên tắc này, trong các điều luật cụ thể quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều có ít nhất hai khung hình phạt khác nhau. Trong đó có nhiều điều luật xác định rõ hai loại khung hình phạt cho trường hợp nghiêm trị vạ cho trường hợp khoan hồng. Ngoài ra, Điều 110 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn cụ thể hoá nguyên tắc khoan hồng qua việc quy định về trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội gián điệp. Đây là một trọng số ít các điều luật thuộc Phần các tội phạm đã cụ thể hoá điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS là điều qúy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự nói chung. Khoản 2 Điều 29 BLHS quy định:

“Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây: a)..; b)....c)... Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thủ, khai rõ sự việc, góp phần có hiệụ quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn...”

Khoản 4 Điều 110 BLHS quy định:

“Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khăn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội phạm này”.

Nguyên tắc thứ hai này không chỉ được thể hiện trong sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mà còn đòi hỏi phải được thể hiện trong sự cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong áp dụng luật.

Từ nguyên tắc xử lí chung như trên, BLHS Việt Nam quy định hình phạt có thể được áp dụng cho người phạm tội xâm đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. Nhóm tội thứ hai gồm: Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài trái phép; Tội xuất, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài trái phép; Tội vi phạm các quy định về hàng không; Tội vi phạm các quy định về hàng hải; Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước; Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật nhà nước; Tội phá huỷ các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đbạt vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự; Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ; Tội buôn lậu hoặc vận chuyên trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới; Tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ; Tội truyền bá vãn hoá đồi trụy.

Trong BLHS năm 1999, khái niệm “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” được sử dụng theo nghĩa như hiện nay và tương ứng với khái niệm “Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” đã được sử dụng trong BLHS năm 1985. Kể từ đây, khái niệm “Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” và khái niệm “Các tội khác xâm phạm an ninh quốc gia” không còn được sử dụng. Các tội danh cụ thể thuộc “Các tội phạm khác xâm phạm an ninh quốc gia” đã được đưa về các chương tội phạm tương ứng.

Ví dụ: Tội chiếm đoạt tàu hay, tàu thuỷ; Tội phá hủy các công trình, phương tiện quan trọng về an văn bản quy phạm pháp luật hình sự của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam là sắc luật số 03-SL/76 năm 1976. Điều 3 của sắc luật này xác định tội phản cách mạng bao gồm: Tội phản quốc; Tội âm mưu lật đổ chánh quyền; Tội gián điệp; Tội vì mục đích phản cách mạng mà phá hoại khối đoàn kết và thống nhất dân tộc, phá hoại quốc phòng, phá hoại trật tự an ninh, phá hoại kinh tế, tài chánh, văn hoá và xã hội; Tội cố ý tuyên truyền, xuyên tạc nhằm lung lạc tinh thần, gây hoang mang rối loạn, chổng chánh quyền cách mạng, phá hoại chế độ; Tội biết rõ là phần tử phản cách mạng mà che giấu.

Tóm lại, khái niệm “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” có quá trình bắt đầu từ khái niệm “Các tội phản cách mạng” (năm 1967), tiếp đến được thay thể bằng khái niệm “Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” (năm 1985) và từ năm 1999, khái niệm “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” đã được thống nhất sử dụng trong luật hình sự Việt Nam.

 

5. Quy định về xóa án tích các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Căn cứ vào Điều 71 xoá án tích các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng cảm ơn!