1. Danh sách các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Nhóm tội phạm nàỵ có tính chất nguy hiểm cho xã hội rất đặc biệt vì có khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội giữ vị trí quan trọng, có tính quyết định trong hệ thống các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Đó là an ninh quốc gia. Đảm bảo an ninh quốc gia là điều kiện cần thiết cho sự đảm bảo các quan hệ xã hội khác. Trong đó, an ninh quốc gia được hiểu “là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.

- Tội bạo loạn (Điều 112, bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017);

- Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113);

- Tội phá hoại cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 114);

- Tội phá hoại việc thực hiện câc chính sách kinh tế - xã hội (Điều 115);

- Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116);

- Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chông Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điêu 117);

- Tội phả rối an ninh (Điều 118);

- Tội chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119);

>> Xem thêm:  An ninh quốc gia là gì ? Phân tích dấu hiệu pháp lý tội xâm phạm an ninh quốc gia ?

- Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120);

- Tội trốn đĩ nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121).

2. Đặc điểm của các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Các tội phạm nói trên có chung một số đặc điểm sau:

- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều xâm phạm một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau của an ninh quốc gia. Các quan hệ xã hội bị các tội xâm phạm an ninh quốc gia xâm phạm đều thuộc nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất. Đó là nhóm quan hệ xã hội về an ninh quốc gia với nội dung cụ thể đã được định nghĩa trong Luật an ninh quốc gia.

- Lỗi của người phạm tội của các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều là lỗi cố ý.

Nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lí của các tội cụ thể, dấu hiệu chù thể của tội phạm chỉ được trình bày khi chủ thể của tội phạm có dấu hiệu đặc biệt.

Từ sự khác nhau giữa các tội xâm phạm an ninh quốc gia có thể phân loại chương tội phạm này thành các nhóm khác nhau theo tiêu chí chủ thể của tội phạm hoặc theo tiêu chí phạm vi quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm phạm. Theo tiêu chí chù thể của tội phạm có thể phân các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành ba nhóm: Nhóm tội phạm có thể do bất cứ ai thực hiện không phụ thuộc vào quốc tịch, nhóm tội phạm chỉ có thể do người có quốc tịch Việt Nam thực hiện và nhóm tội phạm chỉ có thể do người không có quốc tịch Việt Nam thực hiện. Theo tiêu chí phạm vi quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm phạm có thể phân các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành hai nhóm: Nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tổng thể (có tính nguy hại tổng thể) và nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia thuộc từng lĩnh vực (có tính nguy hại cho từng lĩnh vực). Thuộc nhóm thứ nhất cỏ 3 tội danh là tội phản bội Tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và tội gián điệp. Trong đó, tội phản bội Tổ quốc và tội gián điệp có phạm vi xâm phạm an ninh quốc gia ở diện rộng có tính tổng thể còn tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân tuy chỉ xâm phạm một lĩnh vực an ninh nhưng là lĩnh vực chính trị nến cũng bị coi là xâm phạm an ninh quốc gia có tính tổng thể. Thuộc nhóm thứ hai là các tội danh còn lại. Các tội phạm này xâm phạm an ninh quổc gia thuộc các lĩnh vực khác nhau: An ninh lãnh thổ, an ninh trật tự, giữa những người có đặc điểm nhân thân khác nhau V.V..

Theo nguyên tắc thứ hai, việc xử lí về hình sự các tội xâm phạm an ninh quốc gia cần có sự phân hoá cao về trách nhiệm hình sự theo hướng nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, người ngoan cố chống đối đồng thời cũng khoan hồng đối với người bị ép buộc, bị lừa gạt, bị lôi kéo mà phạm tội nhưng đã tự thú, thành khẩn khai báo. Thể hiện nguyên tắc này, trong các điều luật cụ thể quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều có ít nhất hai khung hình phạt khác nhau. Trong đó có nhiều điều luật xác định rõ hai loại khung hình phạt cho trường hợp nghiêm trị vạ cho trường hợp khoan hồng. Ngoài ra, Điều 110 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn cụ thể hoá nguyên tắc khoan hồng qua việc quy định về trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội gián điệp. Đây là một trọng số ít các điều luật thuộc Phần các tội phạm đã cụ thể hoá điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS là điều qúy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự nói chung. Khoản 2 Điều 29 BLHS quy định:

“Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây: a)..; b)....c)... Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thủ, khai rõ sự việc, góp phần có hiệụ quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn...”

>> Xem thêm:  Bảo vệ tổ quốc là gì ? Quy định của Hiến Pháp Việt Nam về bảo vệ tổ quốc

Khoản 4 Điều 110 BLHS quy định:

“Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khăn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội phạm này”.

Nguyên tắc thứ hai này không chỉ được thể hiện trong sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mà còn đòi hỏi phải được thể hiện trong sự cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong áp dụng luật.

Từ nguyên tắc xử lí chung như trên, BLHS Việt Nam quy định hình phạt có thể được áp dụng cho người phạm tội xâm đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. Nhóm tội thứ hai gồm: Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài trái phép; Tội xuất, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài trái phép; Tội vi phạm các quy định về hàng không; Tội vi phạm các quy định về hàng hải; Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước; Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật nhà nước; Tội phá huỷ các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đbạt vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự; Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ; Tội buôn lậu hoặc vận chuyên trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới; Tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ; Tội truyền bá vãn hoá đồi trụy.

Trong BLHS năm 1999, khái niệm “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” được sử dụng theo nghĩa như hiện nay và tương ứng với khái niệm “Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” đã được sử dụng trong BLHS năm 1985. Kể từ đây, khái niệm “Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” và khái niệm “Các tội khác xâm phạm an ninh quốc gia” không còn được sử dụng. Các tội danh cụ thể thuộc “Các tội phạm khác xâm phạm an ninh quốc gia” đã được đưa về các chương tội phạm tương ứng.

Ví dụ: Tội chiếm đoạt tàu hay, tàu thuỷ; Tội phá hủy các công trình, phương tiện quan trọng về an văn bản quy phạm pháp luật hình sự của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam là sắc luật số 03-SL/76 năm 1976. Điều 3 của sắc luật này xác định tội phản cách mạng bao gồm: Tội phản quốc; Tội âm mưu lật đổ chánh quyền; Tội gián điệp; Tội vì mục đích phản cách mạng mà phá hoại khối đoàn kết và thống nhất dân tộc, phá hoại quốc phòng, phá hoại trật tự an ninh, phá hoại kinh tế, tài chánh, văn hoá và xã hội; Tội cố ý tuyên truyền, xuyên tạc nhằm lung lạc tinh thần, gây hoang mang rối loạn, chổng chánh quyền cách mạng, phá hoại chế độ; Tội biết rõ là phần tử phản cách mạng mà che giấu.

Tóm lại, khái niệm “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” có quá trình bắt đầu từ khái niệm “Các tội phản cách mạng” (năm 1967), tiếp đến được thay thể bằng khái niệm “Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” (năm 1985) và từ năm 1999, khái niệm “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” đã được thống nhất sử dụng trong luật hình sự Việt Nam.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người sử dụng đất có những quyền và nghĩa vụ gì?