- 1. Mở đầu vấn đề
- 2. Các trường hợp không được tổ chức phiên tòa trực tuyến
- 2.1 Khái quá chung về phiên tòa trực tuyến
- 2.2 Vụ án hình sự, dân sự, hành chính liên quan đến bí mật nhà nước
- 3. Vụ án hình sự về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia
- 4. Vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
1. Mở đầu vấn đề
Tổ chức phiên tòa trực tuyến là hình thức xét xử trực tiếp với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Các yêu cầu khác của một phiên tòa vẫn theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức tòa án điện tử, phiên tòa trực tuyến đòi hỏi điều kiện về hạ tầng công nghệ, nền tảng số hóa, nhất là việc số hóa toàn bộ hồ sơ, chứng từ… Tất cả các khâu phải có một hệ thống công nghệ, phương tiện, trang thiết bị hiện đại, mạng nối kết tốt để phiên tòa không bị gián đoạn.
Khái niệm xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc.
Thời gian gần đây, dịch COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, kéo dài, do thực hiện giãn cách xã hội, nhiều tòa án không thể đưa vụ án ra xét xử theo thời gian luật định. Việc này làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tư pháp, quyền và lợi ích của nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Trên thực tế, dịch COVID-19 không chỉ làm ảnh hưởng đến hoạt động xét xử nói chung mà còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động khác của tố tụng hình sự như giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án hình sự và truy tố.
Nhấn mạnh dịch COVID-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp, khó lường tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động xét xử bình thường của ngành tòa án, vì vậy, việc ứng dụng khoa học, công nghệ để giải quyết những khó khăn, vướng mắc khi tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự trong bối cảnh hiện nay là cần thiết. Ta thấy, đây là vấn đề mới, do đó chỉ nên tổ chức các phiên tòa trực tuyến có tính chất đơn giản, có chứng cứ, tài liệu rõ ràng và vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
Tuy nhiên, đây là phương thức tố tụng mới trên nền tảng số nên cần thực hiện thí điểm, triển khai trên từng địa bàn, có đầu tư thỏa đáng về trang thiết bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, hiện đại để bảo đảm chất lượng phiên tòa, nhất là ở cấp huyện, thị xã.
Đồng thời, các cơ quan chức năng cần sớm ban hành thông tư, các văn bản hướng dẫn ngay khi Nghị quyết về tổ chức phiên tòa trực truyến được thông qua để sớm áp dụng trong thực tiễn.
2. Các trường hợp không được tổ chức phiên tòa trực tuyến
2.1 Khái quá chung về phiên tòa trực tuyến
Theo Điều 1, Nghị quyết 33/2021/QH15 về tổ chức phiên tòa trực tuyến có quy định như sau:
Thứ nhất: Tòa án nhân dân được tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng, trừ các trường hợp sau đây:
- Vụ án hình sự, dân sự, hành chính liên quan đến bí mật nhà nước;
- Vụ án hình sự về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự;
- Vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật Hình sự.
Thứ hai: Phiên tòa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào cùng một thời điểm.
Thứ ba: Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến phải tuân thủ các quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng và các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật; bảo đảm sự tôn nghiêm của phiên tòa.
2.2 Vụ án hình sự, dân sự, hành chính liên quan đến bí mật nhà nước
Như đã nêu tại mục 1 trên, Tòa án nhân dân được tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng, trừ các trường hợp sau đây:
- Vụ án hình sự, dân sự, hành chính liên quan đến bí mật nhà nước;
- Vụ án hình sự về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự;
- Vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật Hình sự.
- Vụ án hình sự là Vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật hình sự tố tụng. Người vi phạm pháp luật đã bị khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các quy định của Bộ luật hình sự tố tụng tức đã can án hình sự sẽ bị áp dụng một số biện pháp do luật quy định như phải khai cung, phải có mặt tại nơi và vào thời gian do các cơ quan tiến hành tố tụng - cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án quy định, có trường hợp bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như tạm giam, khám nhà... Có thể bị phạt tù, bị cấm hành nghề nếu qua xét xử tòa án đã đủ chứng cứ chứng minh là phạm tội và đã ra quyết định bằng một bản án hình sự.
- Vụ án dân sự là vụ án phát sinh tại Tòa án trong trường hợp công dân, pháp nhân, tổ chức xã hội, Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của tập thể, của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc xâm phạm trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động; thông qua đơn khởi kiện của công dân, tập thể, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết.
=> Chúng ta nêu ra một số đặc điểm của vụ án dân sự sau:
+ Nguồn gốc của vụ án dân sự là các tranh chấp phát sinh về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ dân sự; hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động.
+ Các tranh chấp trên phải được giải quyết bởi Tòa án. Kết quả giải quyết vụ án phải được ghi nhận trong bản án của Tòa án và phải được các bên tuân thủ nghiêm chỉnh.
+ Các bên trong vụ án dân sự được gọi là các đương sự. Đương sự là cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quy định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước và được tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định căn cứ vào quy định của Luật này, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác.
Theo đó, bảo vệ bí mật nhà nước là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng lực lượng, phương tiện, biện pháp để phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước.
Nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước
- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước bảo đảm đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Chủ động phòng ngừa; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
- Bí mật nhà nước được bảo vệ theo thời hạn quy định của Luật này, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật.
3. Vụ án hình sự về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Vụ án hình sự về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự, theo đó các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội, chế độ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xâm hại sự tồn tại, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những tội có tính chất nguy hiểm cao nên luật quy định hình phạt rất nghiêm khắc như tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn với mức cao. Ngoài các hình phạt chính, luật còn quy định các hình phạt bổ sung ở Điều 92 – Bộ luật hình sự như tước một số quyền công dân, quản chế, cấm cư trú, tịch thu tài sản.
Các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia được chia thành hai nhóm:
+ Các tội trực tiếp uy hiếp sự tồn tại của chính quyền nhân dân.
+ Các tội trực tiếp uy hiếp sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.
4. Vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
Vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật Hình sự, theo đó:
Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh là những tội phạm quốc tế hoặc mang tính chất quốc tế được ghi nhận trong pháp luật hình sự của nước ta. Các tội này được quy định tại chương XXVI Bộ luật hình sự bao gồm:
- Điều 421. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược
- Điều 422. Tội chống loài người
- Điều 423. Tội phạm chiến tranh
- Điều 424. Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê
- Điều 425. Tội làm lính đánh thuê
Các tội phạm này là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm sự tồn tại hoà bình và an ninh của nhân loại. Ngoài ra các tội phạm này còn trực tiếp xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ Nhà nước của một quốc gia hoặc một số quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của một cộng đồng dân cư của một quốc gia hoặc của một số nước trong một khu vực nhất định.
Theo quy định của điều luật tội chống loài người là việc người nào trong thời bình hay trong chiến tranh mà thực hiện hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội nhằm phá hoại xã hội đó hoặc thực hiện hành vi diệt chủng khác hoặc thực hiện hành vi diệt sinh, diệt môi trường tự nhiên.
Để bảo vệ người và tài sản, loại trừ hoặc hạn chế hậu quả không cần thiết trong các cuộc chiến tranh, Công ước Giơnevơ năm 1949 (bao gồm một bộ gồm 4 công ước) đã ra đời. Đó là Công ước về bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh, Công ước về đối xử với tù binh và bệnh binh trong các quân đội thường trực, Công ước về bảo vệ thương binh, bệnh binh và những nạn nhân bị đắm tàu trong các đơn vị hải quân ở ngoài biển. Bất cứ hành vi nào vi phạm nghiêm trọng quy định của các Công ước này đều bị coi là tội phạm chiến tranh.
Nội luật hoá nội dung của các công ước, trong luật hình sự Việt Nam quy định tội phạm chiến tranh là tội phạm thuộc chương các tội phạm phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. Theo đó tội phạm chiến tranh được xác định là hành vi ra lệnh hoặc trực tiếp tiến hành việc giết hại dân thường, người bị thương, tù binh, cướp phá tài sản, tàn phá các nơi dân cư, sử dụng các phương tiện hoặc phương pháp chiến tranh bị cấm cũng như là những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng các điều ước quốc tế về vấn đề này mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia.
Tội phạm chiến tranh là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có tính quốc tế. Do vậy, đối với tội phạm này luật hình sự Việt Nam không chỉ quy định hình phạt rất nghiêm khắc (mức cao nhất là tử hình và mức thấp nhất là 10 năm tù) mà còn quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như không giới hạn hiệu lực về không gian của Bộ luật hình sự.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê Trân trọng!