1. Trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động
Theo quy định tại Điều 168 của Bộ Luật Lao động 2019 về việc tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT) và Bảo hiểm tai nạn lao động (BHTN) có các điểm sau:
- Người sử dụng lao động và người lao động (NLĐ) phải tham gia BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN. Điều này có nghĩa là NLĐ và người sử dụng lao động đều phải đóng các khoản tiền BHXH, BHYT và BHTN theo quy định của pháp luật.
NLĐ được hưởng các chế độ và quyền lợi theo quy định của pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN. Điều này đảm bảo rằng NLĐ sẽ được bảo vệ và hưởng các chế độ và quyền lợi khi gặp các tình huống liên quan đến sức khỏe và công việc.
- Các người sử dụng lao động không phải trả lương cho NLĐ trong thời gian NLĐ nghỉ việc và hưởng chế độ BHXH, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác. Điều này đảm bảo rằng NLĐ sẽ được hưởng chế độ BHXH trong thời gian nghỉ việc mà không bị mất lương.
- Đối với NHĐ không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả một khoản tiền tương đương với mức đóng BHXH, BHYT và BHTN của NLĐ theo quy định của pháp luật. Điều này đảm bảo rằng NHĐ không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc cũng được hưởng mức bảo hiểm tương đương thông qua việc thanh toán khoản tiền này.
Tóm lại, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ và trong trường hợp NLĐ không thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN, người sử dụng lao động cũng phải thanh toán một khoản tiền tương ứng để bảo đảm quyền lợi và chế độ cho NLĐ.
2. Các trường hợp được trả thêm tiền thay vì đóng bảo hiểm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động và người lao động đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp nếu thuộc đối tượng tham gia được quy định.
Ngoài ra, theo khoản 3 của Điều này, trong trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, các quyền lợi sẽ được giải quyết như sau:
Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với số tiền mà người sử dụng lao động phải đóng cho bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
Vì vậy, người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được doanh nghiệp chi trả thêm một khoản tiền tương đương với số tiền mà doanh nghiệp phải đóng cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 của Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017, các trường hợp người lao động sau đây sẽ được nhận tiền thay cho việc đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH):
- Người giúp việc gia đình.
- Người lao động đi làm nhưng đang hưởng lương hưu hàng tháng.
- Người lao động đi làm nhưng đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ cấp xã
- Người lao động đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.
- Người lao động đang hưởng trợ cấp hàng tháng
- Người lao động là quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng
Lưu ý: nếu không thuộc các trường hợp trên mà thỏa thuận nhận tiền thay cho đóng BHXH, cả người lao động và người sử dụng lao động đều sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động.
+ Đối với người lao động: Bị phạt từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng (theo khoản 1 Điều 39 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
+ Đối với người sử dụng lao động: Bị phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền bảo hiểm phải đóng, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng (theo điểm c của khoản 5 Điều 39 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
3. Cách tính và số tiền được nhận thêm khi không tham gia BHXH bắt buộc
Theo quy định của Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017, những người lao động không thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc sẽ được doanh nghiệp trả thêm tiền thay cho việc đóng bảo hiểm. Số tiền mà người lao động được nhận sẽ được tính bằng số tiền các loại bảo hiểm bắt buộc mà doanh nghiệp phải đóng.
Theo hướng dẫn tại Quyết định 595/QĐ-BHXH, hàng tháng, người sử dụng lao động sẽ phải trích đóng các khoản bảo hiểm với tỷ lệ cụ thể (21,5% hoặc 21,3%) dựa trên số tiền lương để tính toán việc đóng BHXH bắt buộc. Các tỷ lệ này bao gồm: hưu trí - tử tuất là 14%; ốm đau - thai sản là 3%; tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp là 0,5% hoặc 0,3%; bảo hiểm thất nghiệp là 1% và bảo hiểm y tế là 3%.
Đối với bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện đóng quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với mức tỷ lệ thấp hơn và được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấp thuận, thì tỷ lệ đóng sẽ là 0,3% (theo điểm b khoản 1 Điều 4 và Điều 5 của Nghị định 58/2020/NĐ-CP). Các trường hợp khác sẽ phải đóng tỷ lệ 0,5%.
Theo quy định tại Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH, số tiền mà người lao động sẽ nhận được như tiền thay cho việc đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH) nếu không thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc và doanh nghiệp đóng BHXH thay là 21,5% hoặc 21,3% của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
Theo khoản 26 Điều 1 Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động bao gồm:
- Mức lương theo công việc hoặc chức danh.
- Các khoản phụ cấp lương bù đắp về điều kiện lao động, độ phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương trong hợp đồng chưa được tính đến hoặc có tính nhưng chưa đầy đủ.
- Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể và được chi trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương.
Ví dụ: Giả sử ông A sau khi nghỉ hưu vẫn tiếp tục làm việc cho công ty X với mức lương theo công việc trong hợp đồng là 8 triệu đồng/tháng.
Hàng tháng, công ty X sẽ trả cho ông A không chỉ số tiền lương được ghi trong hợp đồng là 8 triệu đồng, mà còn phải trả thêm tiền BHXH thay: 21,5% x 8 triệu đồng = 1,72 triệu đồng.
Do đó, tổng số tiền mà ông A sẽ nhận được mỗi tháng sẽ là: 8 triệu đồng + 1,72 triệu đồng = 9,72 triệu đồng.
4. Có được thỏa thuận về việc không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không?
Căn cứ vào khoản 1 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, ta thấy rõ quy định về việc xử phạt hành chính đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định. Theo quy định, mức phạt tiền có thể dao động từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
Hành vi của người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là một hành vi vi phạm quy định pháp luật. Việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định nhằm đảm bảo cho người lao động những quyền lợi và an sinh xã hội tương xứng trong trường hợp gặp khó khăn, bệnh tật, tai nạn lao động hoặc khi nghỉ hưu.
Thỏa thuận không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là vi phạm quy định pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính. Điều này nhằm đảm bảo tuân thủ quy định của cả người lao động và người sử dụng lao động đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Qua đó, ta có thể thấy rõ rằng hành vi thỏa thuận không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ bị xem là vi phạm quy định pháp luật và chịu phạt hành chính. Như vậy, cần nhớ rằng tuân thủ đúng quy định về bảo hiểm xã hội là trách nhiệm của cả người lao động và người sử dụng lao động để đảm bảo quyền lợi và an sinh xã hội của người lao động.
Ngoài nội dung trên quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết có nội dung tương tự tại địa chỉ: Mức đóng bảo hiểm y tế cho học sinh tiểu học là bao nhiêu tiền?
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng gửi về số Hotline 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Trân trọng