Tình trạng làm oan người vô tội trong hoạt động tố tụng đã gây ra nhiều ý kiến và bức xúc trong dư luận làm giảm lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tiến hành tố tụng. Điển hình các vụ oan sai lớn như 3 cụ ông ở Vĩnh Phúc mang án oan giết người gần 40 năm; Nguyễn Thanh Chấn ngồi tù 10 năm khiến gia đình tan nát; đặc biết vụ án ba mẹ con bà Nguyễn Thị May mới đây bị oan sai sau 30 năm bị khởi tố, tạm giam về tội Giết người và cũng là khoảng thời gian ròng rã kêu oan;....Có thể nói bị kết tội oan đối với không chỉ nạn nhân mà người nhà nạn nhân bị oan sai thiệt hại không hề nhỏ về vật chất, tinh thần, thời gian sưc khỏe và chịu đựng trách móc, găm ghét từ dư luận. Vậy cơ quan nào sẽ phải chịu trách nhiệm trong trường hợp oan sai này và mức bồi thương cho những nạn nhân này như thế nào là thỏa đáng?

 

1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Người bị oan sai được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường cho những tổn hại về tinh thần và vật chất mà mình phải chịu những không phải trường hợp nào cũng có quyền yêu cầu bồi thường mà sẽ phải căn cứ vào Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định các căn cứ để bồi thường thiệt hại cụ thể:

- Căn cứ thứ nhất: Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường.

Người thiệt hại ở đây phải là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do chính người thi hành công vụ gây ra. Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật đó để giải quyết yêu cầu bồi thường cho mình. Vậy làm thế nào để xác định hành vi trái pháp luật thì người bị hại cần xác định dựa vào các căn cứ như:

+ Đối với trường hợp yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại cho mình thì phải có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật theo quy định và trong văn bản đó đã xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xã định rõ người bị thiệt hại tuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.

+ Đối với trường hợp yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại thì căn cứ để xác định hành vi trái pháp luật là khi Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính, vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại trực tiếp đến "nạn nhân" và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và bên bị thiệt hại cũng có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại ( đối với vụ án hành chính) hoặc có đơn yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

- Căn cứ thứ hai: Có thiệt hại thực tế của người bị hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Thiệt hại của người bị hại phải là thiệt hại thực tế ( do chính hành vi vi phạm phpas luật của người thi hành công vụ gây ra) bị giảm sút về mọi mặt cả về tài sản lẫn tinh thần của mình hoặc của những người thân vì mình mà dẫn đến thiệt hại. Những thiệt hại đó bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; Thiệt hại về vật chất di sức khỏe bị xâm phạm; Thiệt hại về tinh thần hoặc các chi phí đi lại, thuê phòng nghie, chi phí in ấn tài liệu kêu oan hay trong quá trình khiếu nại ngoài ra còn một vài chi phí phát sinh như thuê người bào chữa, thăm nom người thân bị tạm giữ, tạm giam.......

- Căn cứ thứ ba: Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế về hành vi gây thiệt hại tức là hành vi vi phạm đó là nguyên nhân, nguồn gốc chính phát sinh ra thiệt hại thực tế nêu trên, ngược lại thiệt hại xảy ra nhưng không liên quan gì đến hành vi vi phạm của người thi hành công vụ thì sẽ không được hưởng mức bồi thường của Nhà nước.

Ví dụ: Trong vụ án oan mới đây của ba mẹ con cụ Nguyễn Thị May sau hơn 30 năm bị khởi tố, tạm giam về tội giết người do lỗi vi phạm từ Viện Kiểm Sát Quân sự Quân khu 1. Cụ thể vào 3/1988 ba mẹ con cụ May đã bị Viện Kiểm sát Quân sự tỉnh Cao Bằng khởi tố, điều tra về Tội giết người có liên quan đến cái chết của thượng úy Lê Danh Tân hồi 2/1988. Đến tháng 3/1991 VKS Quân sự Quân khu 1 đã đình chỉ bị can với ba mẹ con cụ May vì không đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và ba mẹ con cụ May cũng đã được trả tự do. Tuy nhiên, từ hành vi vi phạm pháp luật nêu trên của Viện Kiểm Sát Quân sự Quân khu 1 đã gây ra thiệt hại thực tế cho gia đình cụ May trong vòng 30 năm ròng rã, cụ May cũng đã gửi đơn đề nghị Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Cao Bằng giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại và công khai xin lỗi vì đã thực hiện hành vi bắt giữ và kết án oan cho gia đình cụ. Theo đó, TAND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Quyết định bồi thương cho cụ May và hai người con ruột của cụ May với mức bồi thường là 5 tỷ đồng cho các thiệt hại về tổn thất tinh thần, thu nhập thực tế bị mất, chi phí đi lại kêu oan và chi phí thuê Luật sư. Quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực ngay, VKS Quân sự Quân khu 1 cam kết sẽ chi trả ngay khi có nguồn kinh phí đảm bảo bên cạnh đó VKS Quân sự Quân khu 1 sẽ đăng cải chính công khai xin lỗi trên 5 số báo tỉnh Cao Bằng đồng thời sẽ cấp lại Quyết định đình chỉ bị can cho gia đình cụ May

 

2. Cá nhân, tổ chức nào sẽ được bồi thường thiệt hại?

Căn cứ tại Điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại năm 2017 quy định những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do người thi hành công vụ gây ra sẽ được Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật và sau đó người thi hành công vụ gây thiệt hại sẽ phải hoàn trả lại kinh phí vào Ngân sách nhà nước. Theo đó, những người sau đây sẽ có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại:

- Người bị thiệt hại trực triếp do hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ gây ra;

- Người thừa kế của người bị thiệt hại đó nếu người bị thiệt hại bị kết án tử hình và sau khi thi hành án xong mới phát hiện người đó không phạm tội thì người thừa kế của người bị hại đó sẽ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. 

- Tổ chức thừa kế quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại;

- Người đại diện theo pháp luật của người bị hại nếu luật quy định phái có người đại diện;

Trong người hợp những đối tượng trên không thể tự giải quyết yêu cầu bồi thường thì có thể ủy quyền cho người khác thực hiện.

Ngoài ra người yêu cầu bồi thường thiệt hại phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối với các vụ án hình sự, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai mà có quyết định người này không thực hiện hành vi phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, không có sự việc phạm tội hoặc hết thời hạn điều ta vụ án mà không chứng minh được người đó thực hiện tội phạm. Nhà nước cũng phải bồi thường cho cá nhân, tổ chức có tài sản bị thiệt hại do thu giữ, kê biên, tịch thu, có tài khoản bị phong tỏa,....

 

3. Quy định về mức bồi thường và cách tính mức bồi thường trong những vụ án oan, sai.

Hiện tại pháp luật không quy định chính xác về khoảng tiền bồi thường cho các vụ án oan, sai mà sẽ dựa vào các căn cứ của từng vụ án với tính chất và mức độ khác nhau cũng như những thiệt hại khác nhau để căn cứ tính tiền bồi thường phù hợp, nói chung nguyên tắc sẽ dựa theo sự thỏa thuận, thương lượng của các bên nhưng vẫn phải đảm bảo được thực hiện kịp thời, công khai, minh bạch và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Để có cơ sở bồi thường thiệt hại thì người yêu cầu bồi thường cần phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến yếu cầu bồi thường và chứng minh được những thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả và hành vi gây thiệt hại, nếu không chứng minh được thì sẽ căn cứ tính theo quy định của pháp luật vì trên thực tế nhiều người yêu cầu bồi thường nhưng không thể nào đưa ra những căn cứ chứng minh cũng như thiệt hại thực tế nên dẫn đến tình trạng mức yêu cầu bồi thường của bên yêu cầu lớn hơn rất nhiều so với mức bồi thường của Nhà nước khiến cho công tác thực hiện bồi thường thiệt hại của nhà nước bị kéo dài do khó tìm được điểm chung trong quá trình thương lượng.

Tóm lại, để bồi thường cho người yêu cầu thì Nhà nước phải có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường. Kinh ohis bồi thường sẽ bao gồm tiền chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại ( Khoản 1 Điều 60 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017).

Như phân tích ở mục 1, để xác định mức bồi thường tương đối cho người yêu cầu thì dựa trên các căn cứ, tiêu chí sau:

Thứ nhất: Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất. Vậy làm thế nào để xác định được thu nhập thực tế bị mất khi bên yêu cầu không có căn cứ chứng minh? Có thể hiểu, thu nhập thực tế bị mất là khoản tiền công, tiền lương bị mất trong khoảng thời gian người chịu thiệt hại không thể thực hiện được công việc đó do hành vi vi phạm của người thi hành công vụ. Cụ thể tại Điều 24 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được hướng dẫn bởi Điều 5, 6,7,8,9 Nghị định 68/2018/NĐ-CP đã đưa ra những căn cứ xác định thiệt hại do thu nhập thực tế bị giảm sút hoặc bị mất cụ thể:

- Nếu thu nhập của người bị thiệt hại mà ổn định thì mức bồi thường sẽ được xác định theo mức tiền lương, tiền công ổn định đó và chỉ xác định trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc giảm sút chứ không phải trong tất cả thời gian mà người đó bị oan, sai. Hiểu đơn giản mức bồi thường cho thiệt hại này sẽ tính từ ngày bên thiệt hại không nhận được tiền/tiền bị giảm sút.. cho đến khi người bị thiệt hại nhận lại được số tiền đó.

- Nếu mức thu nhập của người bị thiệt hại không ổn định thì mức bồi thường tính bằng tiền lương, tiền công trung bình của 3 tháng có thu nhập gần nhất trước khi xảy ra thiệt hại.

- Nếu mức thu nhập của người bị thiệt hại không ổn định mà xác định theo mùa vụ mà bị mất hoặc bị giảm sút thì cách xác định như sau:

+ Đổi với trường hợp xác định được mức thu nhập trung bình của lao động cùng ngành nghề tại địa phương với người bị thiệt hại thì sẽ tính mức bồi thường dựa vào mức lao động cùng loại đó.

+ Đới với trường hợp không xác định mức thu nhập trung bình của lao động cùng ngành, nghề tại địa phương với người bị thiệt hại thì cách tính mức bồi thường là một ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị hại cư trú cho 1 ngày bị thiệt hại.

- Với tổ chức, pháp nhân mà bị thiệt hại do thu nhập bị mất/ giảm sút thì mức bồi thường sẽ căn cứ vào thu nhập trung bình của 2 năm liền kề trước thời điểm xảy ra thiệt hại thực tế đó.

Thứ hai: Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết thì người thừa kế của người bị thiệt hại sẽ được nhận khoảng bồi thường đó. Khoảng bồi thường này được quy định cụ thể tại Điều 25 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 68/2018/NĐ-CP.

Thứ ba: Thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 68/2018/NĐ-CP.

Thứ ba: Thiệt hại về tinh thần căn cứ tại Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định như sau:

- Đối với trường hợp bị giam giữ thì tính bằng 5 ngày lương cơ sở cho một ngày bị giam giữ;

- Đối với trường hợp không bị giam giữ thì tính bằng 2 ngày lương cơ sở cho một ngày không bị giam giữ

- Trường hợp người bị thiệt hại đã chấp hành xong hình phạt mà sau đó mới có bản án, quyết định người đó thuộc trường hợp được bồi thường, mức bồi thường thiệt hại sẽ tính bằng 2 ngày lương cơ sở cho một ngày chưa có bản án, quyết định.

- Trường hợp người bị thiệt hại chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo được xác định là 3 nagfy lương cơ sở cho 1 ngày chấp hành hình phạt trên.

Một ngày lương cơ sở = mức lương cơ sở : 26 ngày.

Ngoài ra còn các chi phí được bồi thường tại Điều 28 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì người bị hại cần xuất trình các giấy tờ chứng minh về những chi phí đó, nếu không xuất trình được thì chi phí sẽ tính theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật trên.

Thời gian tiến hành bồi thường: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ, người giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại phải xác minh thiệt hại, trường hợp nhiều vấn đè phức tạp thì thời gian xác minh thiệt hại là 30 ngày. Ngay sau khi hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng việc bồi thường dựa theo mức bồi thường đã quy định.

 

4. Trách nhiệm bồi thường của người thi hành công vụ đối với hành vi vi phạm.

Vậy cán bộ, chiến sỹ thi hành công vụ có hành vi vi phạm và gây thiệt hại, làm oan, sai, tù oan cho người khác thì chịu trách nhiệm gì?

Căn cứ tại Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà nhà nước đã bồi thường. Để xác định số tiền hoàn trả của người thi hành công vụ cho nhà nước ta căn cứ vào số tiền nhà nước đã bồi thường và mức độ lỗi (lỗi cố ý và vô ý) của người thi hành công vụ.

- Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại mà bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên người đó phạm tội thì phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền nhà nước bồi thường;

- Trường hợp cố lỗi nhưng chưa đến mức người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì hoàn trả từ 30-50 tháng lương của người thi hành công vụ tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa sẽ là 50% số tiền mà nhà nước đac bồi thường;

- Trường hợp lỗi vô ý gây thiệt hại thì mức hoàn trả là 3-5 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả những tối đa là 50% số tiền nhà nước đã bồi thường;

- Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ gây thiệt hại thì những người đó hoàn trả với mức độ lỗi tương ứng của mình và số tiền bồi thường mà Nhà nước đã bỏ ra;

- Trường hợp người thi hành công vụ nghỉ hưu thì vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả; nếu người này đang được cơ quan bảo hiểm trả lương hưu thì sẽ phải thu tiền lương hưu đó theo quyết định hoàn trả nộp về Ngân sách Nhà nước.

Ngoài việc hoàn trả lại kinh phí vào ngân sách nhà nước, người gây ra thiệt hại phải thực hiện công khai, cải chính xin lỗi trên các tờ báo trung ương và địa phương nơi bị hại cư trú và trực tiếp xin lỗi trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị hại về việc phục hồi danh dự. Điển hình như vụ án oan sai ba mẹ con cụ May, Viện Kiểm Sát Quân sự Quân khu 1 phải đăng trên 5 số báo tại tỉnh Cao Bằng buộc công khai, xin lỗi và cải chính lại thông tin.

Trên đây là bài viết phân tích về cách tính mức bồi thường thiệt hại do bị oan, sai, bị tù. Nếu có vướng mắc về vấn đề trên hay vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân sự, hình sự...Quý khách hàng vui lòng gọi vào hotline 1900.6162 để được Luật sư tư vấn qua tổng đài trực tuyến.