Theo Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Hình sự Chương các tội phạm về ma túy, mục 2.5:

(1) Trường hợp các chất ma túy đó đều có trọng lượng dưới mức tối thiểu quy định tại Khoản 1 Điều 193 (nay là Khoản 1 Điều 248) hoặc Khoản 2 Điều 194 (nay là Khoản 2 các Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015), thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy so với mức quy định tại Khoản 2 các điều 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bưóc 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau.

Bưốc 3: Xác định điểm, khoản, điều luật. Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 248 hoặc Khoản 2 các điều 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung: “Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ...” quy định tại Khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 2015 hoặc Khoản 2 các điều 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự năm 2015.

(2) Trường hợp các chất ma túy đó đều được quy định trong cùng Điều 248 Bộ luật hình sự năm 2015 hoặc các điều 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự năm 2015 thì cộng trọng lượng của các chất ma túy đó lại với nhau và so sánh với quy định về trọng lượng trong điều luật tương ứng để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội theo khoản nào phù hợp của điều luật đó.

(3) Trường hợp các chất ma túy đó có trọng lượng tại các điểm khác nhau của cùng Khoản 2 (Khoản 3) Điều 248 hoặc Khoản 2 (Khoản 3) Điểu 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015, thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bưốc sau đây:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy định tại Khoản 3 (Khoản 4) Điều 248 hoặc Khoản 3 (Khoản 4) Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau.

Bưốc 3: Xác định điểm, khoản, điều luật. Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 (Khoản 3) Điều 248 hoặc Khoản 2 (Khoản 3) Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015; nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung:“Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ...” quy định tại điểm e Khoản 3 (điểm đ Khoản 4) Điều 248 hoặc điểm Bộ luật hình sự Khoản 3 (điểm Bộ luật hình sự Khoản 4) Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015.

(4) Trường hợp trong các chất ma túy đó, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại Khoản 1, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại Khoản 2 (hoặc Khoản 3), hoặc có chất ma túy có trọng lượng quy định tại Khoản 2, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại Khoản 3 Điều 248 hoặc Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015, thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất so với mức tôì thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại Khoản 3 (Khoản 4) Điều 248 hoặc Khoản 3 (Khoản 4) Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015 theo nguyên tắc chất ma túy có trọng Ịượng nhiều nhất thuộc Khoản 2 thì so với mức tôi thiểụ đôi với chất ma túy đó quy định tại Khoản 3; chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất thuộc Khoản 3 thì so với mức tôi thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại Khoản 4.

Bước 2: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng củà chất ma túy khác so với mức tối thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại Khoản 3 (Khoản 4) Điều 248hoặc Khoản 3 (Khoản 4) Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015 theo nguyên tắc mức tối thiểu đối với chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất ở khoản nào thì mức Tối thiểu của các chất ma túy khác lấy ở khoản đó.

Bước 3: Cộng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau và xác định điểm, khoản, điều luật. Nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy là từ 100% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng của chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ...” quy định tại điểm e Khoản 3 (điểm đ Khoản 4) Điều 248; tại điểm Bộ luật hình sự Khoản 3 (điểm Bộ luật hình sự Khoản 4) Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật hình sự năm 2015 (khoản tương ứng của điều luật có quy định mức tối thiểu đôi với chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất).