Đại thi hào Nguyễn Du là một nhà văn lỗi lạc của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam rất nhiều những áng văn hay. Nổi bật nhất đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Trong đó đoạn trích Trao Duyên là đoạn trích nổi bật thể hiện tình yêu của Thúy Kiều với Kim Trọng.
1. Dàn ý cảm nhận 14 câu giữa đoạn trích Trao Duyên
A. Mở bài
Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều
Giới thiệu đoạn trích Trao Duyên và 14 câu thơ giữa
B. Thân bài
- Nội dung 14 câu thơ tiếp theo đó là Thúy Kiều trao kỷ vật và dặn dò Thúy Vân
+ Sáu câu đầu: Thúy Kiều trao kỉ vật Cho Thúy Vân
- Tất cả những kỷ vật như "chiếc vành", "bức tờ mây", "phím đàn", "mảnh hương huyền" đều là minh chứng cho một đoạn tình cảm sâu nặng.
- Hai từ "của chung" thể hiện sự lúng túng, ngập ngừng. Cho thấy tâm trạng của Kiều khi trao lại kỷ vật cho em.
- Sự mâu thuẫn xung đột lý trí thì mách bảo dứt khoát trao đi, nhưng tình cảm thì lại không thể
+ Tám câu thơ tiếp là lời dặn dò của Kiều
- Kiều dường như có dự cảm chẳng lành về cuộc đời mình và cái chết "hiu hiu gió", "hồn nát thân bồ Liễu", "dạ đài"
- Thể hiện sự đau đớn, tuyệt vọng của Kiều và tấm lòng thủy chung của nàng. Ngay cả khi chết đi vẫn hướng về Kim Trọng.
+ Với cách sử dụng thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, sáng tạo, các thành ngữ dân gian. Đó chính là tài năng của Nguyễn Du.
C. Kết bài
Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của 14 câu thơ
2. Cảm nhận 14 câu giữa đoạn trích Trao Duyên
Nhắc tới văn học Việt Nam, không ai không biết đến Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du với 3.245 câu thơ lục bát. Mỗi câu đều thấm vào lòng người, rung động cả thời gian. Trao Duyên là một trong những đoạn trích đặc sắc của Truyện Kiều. Đoạn trích đã tái hiện thành công diễn biến tâm lý phức tạp và sự giằng xé tâm trạng của Kiều trong đêm cậy nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho chàng Kim. Đặc biệt là đoạn Thúy Kiều trao những kỷ vật tình yêu cho Thúy Vân và dặn dò em.
Nguyễn Du được coi là một đại thi hào của nền văn học dân tộc Việt Nam. Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ra và lớn lên tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một người con trong gia đình phong kiến quý tộc, nhưng sống giữa một thời kỳ lịch sử đầy biến động. Trải qua hơn chục năm sống gian khổ ở nhiều vùng quê khác nhau, ông có cơ hội chứng kiến tất thảy những bất công ngang trái của cuộc đời, nhất là đối với phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội cũ, căm phẫn trước chế độ, thương thay cho số phận người phụ nữ. Tin yêu vào phẩm chất con người. Nguyễn Du đã truyền tải những điều đó trong tác phẩm Truyện Kiều.
Đoạn trích Trao duyên trích từ tác phẩm Truyện Kiều nói tới việc Thúy Kiều nhờ cậy em gái là Thúy Vân giúp mình tiếp nối với mối duyên đầu Kim Trọng, thay nàng đền đáp tình yêu sâu lặng của nàng.
Mười bốn câu thơ tái hiện đầy đủ bi kịch tan vỡ của tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng cùng nỗi đau tột cùng, với số phận bi thương của đời Kiều. Qua đó người đọc thấy được tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du và niềm ngợi ca khát vọng hạnh phúc của con người.
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc lòng này chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ gió cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan
Sau khi cậy nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng, Kiều trao lại cho em kỷ vật tình yêu
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
"Chiếc vành" và "tờ mây" là hai kỷ vật minh chứng cho tình yêu và cũng là lời thề ước giữa Kim Trọng và Thúy Kiều. Kỷ vật của một mối tình đẹp mà Kiều không nỡ rời xa, nay đành lòng gửi gắm tất cả lại cho Thúy Vân.
Đồ vật có thể cho tặng nhưng tình cảm đâu phải là thứ nói cho là cho, nhất là tình yêu. Cái "chung" trong tình yêu ở đây nó phá vỡ tính quy luật của tình yêu đôi lứa. Tình yêu chỉ thực sự thiêng liêng vĩnh cửu khi nó là của riêng Thúy Kiều với Kim Trọng. Tình yêu vốn không cho phép có người thứ ba. Một khi có người thứ ba, sự thiêng liêng sẽ bắt đầu đổ vỡ. Nguyễn Du có lẽ đang oán oán cái chế độ đã tàn bạo, cổ hủ khiến cho tình yêu thiêng liêng phải tan vỡ.
Từ đây, những kỷ vật Kiều trao lại cho Thúy Vân sẽ chỉ còn là vật làm tin để Vân nhớ đến Kiều Kiều, nhắc nhở Vân những lúc em hạnh phúc bên người yêu thì đừng bao giờ quên chị.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Nỗi đau như đọng lại trong lời thơ, "dù em nên vợ nên chồng". Nhìn người mình yêu nên vợ nên chồng với người khác là cảm xúc đau xót biết nhường nào. Hơn nữa tuy nguyện vọng của Kiều thành hiện thực. Nhưng nàng vẫn đặt ra những giả thuyết tương lai như có điều gì đó vẫn chưa ổn, chưa yên Kiều tự coi mình là kẻ mệnh bạc, để người khác phải xót xa thương hại.
Bốn câu thơ tiếp theo là dự cảm về cái chết mà Kiều đã chuẩn bị sẵn tinh thần để đón nhận
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ gió cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Phải nghiệt ngã đến thế nào mà một người mới tuổi xuân xanh cứ ám ảnh hoài về cái chết. Kiều đã mất hết niềm tin sống trong hiện tại. Kiều chỉ nghĩ tới tương lai và trông chờ vào lòng thương của kẻ khác, khi Vân hạnh phúc hãy nhớ tới linh hồn của Kiều mà đốt nén hương, chơi bản nhạc tặng kiều. Nếu có gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ hãy nhớ tới Kiều.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Với Kiều, duyên tình có lẽ đã hết kỷ vật. Tình yêu cũng đã trao tay nhưng tâm hồn của nàng vẫn sẽ mãi ghi nhớ lời thề với chàng Kim. Kiều ví mình như thân của liễu, như cành trúc cành mai. Tuy mỏng manh nhưng thanh cao. Kiều không quản nát thân, đền nghì, vẫn sẽ ghi tạc ân tình đậm sâu của Kim Trọng.
Lo cho người khác đã xong xuôi, nàng mới tự mình nhìn lại và tủi thân. Trong tâm hồn Thúy Kiều vẫn khao khát nhận được sự cảm thông, khao khát được chứng minh cho tình yêu bất diệt của mình. Nàng đau khổ, sợ hãi trước tương lai mù mịt. Thế mới thật sự là giằng xé tâm can.
"Dạ đài" là nơi âm phủ tăm tối. Kiều tự cho rằng mình sẽ thuộc về chốn âm ty, địa ngục. Nhưng dù có "cách mặt khuất lời" nghĩa là không thể thấy hay nghe được tiếng nói của nhau thì vẫn hãy cứ rải chén nước cho Kiều. Từ "thác oan" cho thấy Kiều vẫn có gì đó như là oan ức. Nên sau khi chết hồn không tan được, không siêu thoát. Đó cũng là nỗi ấm ức của chính tác giả khi muốn lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ xưa.
Đoạn trích Trao Duyên là tình yêu và cũng là số phận bi kịch của Kiều. Nguyễn Du đã thành công trong việc miêu tả nội tâm của nhân vật. Với hướng ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, Thúy Kiều hiện lên rất rõ là một cô gái vị tha và giàu lòng yêu thương nhưng vô cùng nhạy cảm. Tuy tác phẩm đã ra đời cách đây mấy trăm năm, nhưng câu chuyện về thân phận và vẻ đẹp người phụ nữ vẫn là nỗi nhức nhối trong cả xã hội trước và nay.
Trên đây là mẫu cảm nhận mười bốn câu thơ giữa đoạn trích Trao Duyên luật Minh Khuê xin gửi tới bạn đọc. Hy vọng đó là những tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm theo dõi.