- 1. Top 3+ bài văn mẫu cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng chọn lọc hay nhất
- 1.1. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng - Mẫu số 1
- 1.2. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng - Mẫu số 2
- 1.3. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng - Mẫu số 3
- 2. Cách làm bài văn mẫu cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng (Vọng nguyệt)
- 2.1. Bố cục bài văn cảm nhận
- Luận điểm 1: Sự đối lập giữa hoàn cảnh ngục tù và tâm hồn tự do của thi nhân
- Luận điểm 2: Phong thái ung dung, lạc quan, chủ động hướng tới tự do
- Luận điểm 3: Sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên – đỉnh cao của vẻ đẹp tâm hồn
- Luận điểm 4 (nâng cao): Sự kết hợp hài hòa giữa chất thi sĩ và chất chiến sĩ trong con người Hồ Chí Minh
- 2.2. Một số lưu ý khi làm bài cảm nhận
- 2.3. Dàn ý tóm tắt bài văn mẫu cảm nhận
- 2.4. Mẫu kết bài gợi ý
1. Top 3+ bài văn mẫu cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng chọn lọc hay nhất
1.1. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng - Mẫu số 1
Tuy Bác Hồ viết "Nhật ký trong tù" chỉ để "Ngâm nợi cho khuây" trong khi đợi tự do đến, nhưng tập thơ vẫn mang cho người đọc thấy rõ tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng phi thường và tài năng thơ xuất sắc của Người. Có thể nói, "Nhật ký trong tù" chính là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc. Và bài thơ Ngắm trăng tuy là tả về một cảnh ngắm trăng thông thường nhưng qua đó lại biểu hiện một tâm hồn thanh cao, một phong thái ung dung tự tại của Bác - một nhà thơ - một người chiến sĩ.
"Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ"
Mở đầu bài thơ là hoàn cảnh Ngắm Trăng thiếu thốn với không gian chợt hẹp tù túng của Bác nơi ngục tù. Ngắm Trăng là thú vui tao nhã của những thi nhân xưa. Họ ngắm trăng trên những lầu vọng nguyệt, những vườn hoa với bạn hiền, túi thơ, chén rượu, ... Nhưng nay Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt - trong tù. Bằng biện pháp liệt kê cộng điệp ngữ "không" lặp lại hai lần, Người đã khắc họa cuộc sống tù túng thiếu thốn trong tù. Hoa là biểu tượng của cái đẹp, rượu là chất men say ru hồn ta trong đêm khuya thanh vắng. Thiếu đi những điều kiện vật chất "không rượu, không hoa" của những tài tử văn chương để ngắm trăng, tuy nhiên Bác vẫn thưởng thức với phong thái ung dung tự tại. Bác không chỉ thiếu thốn về vật chất mà cả tinh thần. Ấy thế nhưng trong huyết mạch Bác, trong trái tim yêu đời bao la của Người cảm hứng vẫn dạt dào, nồng đượm khiến Bác phải thốt lên "Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ". Ánh Trăng thanh Khiết cao vời vợi như thúc giục gọi mời thi nhân hãy tự do mà giao hòa, chia sẻ. Ta nhận thấy rằng dường như người tù ấy đã thật sự quên ngục tù, quên cái hiện thực tăm tối để hướng tới ánh sáng, thưởng thức cảnh đẹp. Thế là mặc thiếu thốn vật chất, mặc cho sự giam hãm của bốn bức tường chật hẹp, mặc cho song sắt nhà tù, tất cả không ngăn được cảm xúc mênh mông của Bác. Bác thả hồn theo ánh trăng và gửi gắm vào đó khát vọng tự do khôn nguôi của mình. Câu thơ như một lời thì thầm tâm sự.
Cuộc ngắm trăng của Bác Thể xác bị giam cầm nhưng tâm hồn Bác vẫn bay bằng tới thiên nhiên. Điều đó được lý giải bởi tình yêu của Bác với thiên nhiên và còn bởi tịm thần thép không bị khuất phục bởi cái ác, cái xấu. Trăng trong sáng, lòng người cũng trong sáng, giữa Trăng Và người đã có sự giao hòa tuyệt vời:
"Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ."
Quả là một cuộc kỳ duyên hội ngộ bất chấp cả không gian xung quanh của chiếc song sắt, Người và trăng cứ hướng về nhau bằng một tấm lòng đối đáp người tri kỷ. Người thì hướng ra ngoài để ngắm nhìn vẻ đẹp của trăng còn trăng cũng vượt qua song sắt để đến bên người. Một không gian hoàn cảnh tĩnh lặng trong những giây phút giao hoà mãnh liệt nồng nàn giữa Người và trăng. Tư thế ngắm trăng ấy thật đẹp như một cuộc vượt ngục tinh thần. Trăng được nhân hóa khiến hình ảnh vầng trăng và nhà thơ như lặng lẽ nhìn nhau, cảm thông, chia sẻ với mối tình tri ân tri kỷ cùng "đối diện đàm tâm". Trăng và nhà thơ - hai tâm hồn thanh cao dù bị song sắt nhà tù giam cầm vẫn gần gũi sâu nặng ân tình. Sự thổ lộ giãi bày chân thành từ sâu thẳm hồn người đã được trăng cảm động chia sẻ. Ánh trăng lung linh bỗng chốc sống động, linh hoạt "Trăng nhóm khe cửa ngắm nhà thơ". Trước sự hiện diện của trăng đẹp, cái hiện thực tối tăm u ám của nhà tù dường như bị xóa tan, nhường chỗ cho mối giao hòa thiêng liêng giữa nhà thơ tự do và thiêng nhiên vĩnh cửu. Vần thơ của Bác vần thơ thép mà vẫn bao la bát ngát tình. Nghệ thuật nhân hóa ở câu thơ cuối đã làm cho vầng trăng trở nên có hồn tạo ra một khoảnh khắc lãng mạn giàu chất thơ, chất họa. Làm cho hồn người sáng trong, thanh bạch. Câu thơ dựng lên một bức tranh đêm với cảnh người tù ngắm trăng thật đẹp, ấm áp, tươi vui. Có lẽ nói đây là hai câu thơ trăng đẹp nhất, độc đáo nhất bởi những ngôn ngữ đối nhau hay những hình ảnh cân xứng hài hòa. Nó biểu lộ một tâm hồn thanh cao, một phong thái ung dung, khát khao tự do từ bóng tối ngục tù hướng về trăng sáng.
Có thể thấy, "Ngắm trăng" là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật với lời thơ bình dị hàm xúc được viết bằng chữ Hán. Bài thơ đã vô cùng thành công trong việc khắc họa tình yêu thiên nhiên, phong thái ung dung tự tại của Bác với tinh thần lạc quan trong cảnh tù ngục tối tăm. Thể hiện được tâm hồn thi sĩ và yêu đời của Bác dù đang trong hoàn cảnh bị tù đày, bị giam cầm cũng không thể làm lay động tinh thần của một người chiến sĩ yêu nước. Bác đã khéo sử dụng nghệ thuật liệt kê một cách tinh tế, nghệ thuật nhân hóa thật sống động cho ta thấy bác là người yêu thiên nhiên, yêu trăng và tinh thần thép người chiến sĩ cách mạng.
(2).png)
1.2. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng - Mẫu số 2
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam – không chỉ là người anh hùng cách mạng, mà còn là một thi nhân tài hoa. Thơ của Người giản dị mà sâu sắc, hàm chứa tình yêu con người, thiên nhiên và khát vọng tự do mãnh liệt. Trong số đó, bài thơ “Ngắm trăng” (Vọng nguyệt) là một viên ngọc sáng, soi tỏ vẻ đẹp tâm hồn thanh cao của Người trong hoàn cảnh ngục tù khắc nghiệt.
Tháng 8 năm 1942, từ Pác Bó (Cao Bằng), Bác Hồ sang Trung Quốc để tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế trong công cuộc cứu nước. Tuy nhiên, khi đến thị trấn Túc Vinh (tỉnh Quảng Tây), Người bị chính quyền địa phương bắt giam oan. Suốt hơn một năm, Bác phải trải qua hành trình lao tù đầy gian khổ, bị chuyển qua gần 30 nhà giam ở 13 huyện khác nhau. Chính trong những ngày tháng khổ ải ấy, tập thơ “Nhật ký trong tù” bằng chữ Hán đã ra đời, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ không chỉ ghi lại hiện thực tù đày, mà còn thể hiện một tâm hồn kiên cường, lạc quan và một tài năng thi ca hiếm có. “Ngắm trăng” là một trong những bài thơ tiêu biểu được sáng tác trong hoàn cảnh ấy – khi Bác lặng lẽ nhìn ánh trăng từ song sắt nhà lao.
Dù viết giữa chốn lao tù, “Ngắm trăng” vẫn ánh lên vẻ đẹp của một tâm hồn thi sĩ chan chứa tình yêu thiên nhiên. Từ bao đời, trăng vốn là người bạn tri âm của thi nhân, là biểu tượng của cái đẹp, của tự do và thanh khiết. Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ – trước ánh trăng rọi qua ô cửa sắt, Người cảm nhận được một nguồn cảm xúc dạt dào, cất lên lời thơ:
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa”
(Trong tù không rượu cũng không hoa)
Nếu như thi nhân xưa khi thưởng trăng thường có rượu, có hoa để vơi nỗi cô đơn, thì trong cảnh tù tội, Bác lại chẳng có gì ngoài song sắt và ánh trăng. Từ “diệc” (cũng) trong câu thơ như nhấn mạnh sự thiếu thốn đến tột cùng. Thế nhưng, thay vì than thở, Người chỉ nhẹ nhàng kể lại, với giọng điệu bình thản, ung dung đến lạ thường – một sự chấp nhận đầy bản lĩnh.
Cảm xúc ấy tiếp nối trong câu thơ thứ hai – nơi tâm hồn thi nhân rung lên trước vẻ đẹp của cảnh vật:
“Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”
(Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ)
Nhịp điệu của câu thơ như hòa cùng nhịp trầm bổng của cảm xúc. Dù bị giam cầm, nhưng khi đối diện với đêm trăng thanh, lòng Người vẫn không thể dửng dưng. Bác băn khoăn, tiếc nuối – bởi thân tù khiến Người không thể thỏa sức ngắm trăng như thuở tự do. Nhưng chính tình yêu thiên nhiên ấy đã khiến Người vượt qua mọi ranh giới của nhà tù.
Bằng tâm hồn tự do và trí tưởng tượng phong phú, Bác đã thực hiện một “cuộc vượt ngục tinh thần” kỳ diệu:
“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”
(Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.)
Không có rượu, chẳng có hoa, nhưng bữa tiệc thưởng trăng của Bác lại tràn đầy thi vị. Hai câu thơ là một bức tranh tuyệt mỹ – người và trăng đối diện nhau, hòa làm một trong sự đồng điệu của tâm hồn. Những cặp từ “nhân – nguyệt”, “hướng – tòng” tạo thế cân xứng, thể hiện sự giao hòa kỳ diệu giữa con người và thiên nhiên. Dù bị ngăn cách bởi song sắt, ánh trăng vẫn len qua khe cửa để “ngắm” lại thi nhân, như một người bạn tri kỷ đến sẻ chia. Nhà tù chỉ giam giữ thể xác, chứ không thể cầm tù được tâm hồn thanh cao và tự do của Người.
Qua “Ngắm trăng”, ta thấy hiện lên hình ảnh một Hồ Chí Minh thi sĩ – yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, và đặc biệt là luôn giữ được phong thái ung dung, lạc quan giữa nghịch cảnh. Nơi giam cầm tăm tối, thiếu thốn ấy không làm mờ đi vẻ đẹp tinh thần của Người, trái lại càng tôn lên nghị lực và bản lĩnh kiên cường của một chiến sĩ cách mạng. Bác nhìn trăng – không chỉ là ngắm cảnh, mà còn là ngắm vào sự vĩnh hằng, vào tự do mà Người hằng hướng tới.
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cổ điển kết hợp với giọng thơ giản dị, hàm súc đã làm nên một thi phẩm đậm đà hồn Việt. Nhịp thơ chậm rãi, hình ảnh trong sáng, tinh tế khiến người đọc cảm nhận được tâm hồn thanh khiết và tình yêu cuộc sống mãnh liệt trong con người Hồ Chí Minh.
Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói: “Thơ Bác đầy trăng.” Thật vậy, trăng trong thơ Người không chỉ là hình ảnh thiên nhiên, mà còn là biểu tượng của tâm hồn tự do, của vẻ đẹp vĩnh cửu. Với “Ngắm trăng”, Hồ Chí Minh đã để lại cho đời không chỉ một bức tranh trữ tình tuyệt đẹp, mà còn là chân dung tinh thần của một con người vĩ đại – người tù cách mạng có tâm hồn thi sĩ, yêu đời và yêu tự do hơn tất thảy.

1.3. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng - Mẫu số 3
Hoài Thanh từng nói: “Thơ Bác tràn đầy ánh trăng” – một nhận định thật chí lý. Trong thế giới thơ ca của Hồ Chí Minh, hình ảnh vầng trăng hiện lên với muôn dáng vẻ: khi “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”, khi “trăng vào cửa sổ đòi thơ”, hay lúc “khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Ánh trăng trong thơ Bác không chỉ là cảnh vật thiên nhiên, mà còn là biểu tượng cho tâm hồn thanh khiết, tự do, chan chứa tình yêu cuộc sống. Bởi Bác không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một thi nhân nặng lòng với thiên nhiên, đất nước. Giữa muôn bài thơ viết về trăng ấy, “Ngắm trăng” là một viên ngọc sáng – bài thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại, thể hiện trọn vẹn phong thái ung dung và tâm hồn trong trẻo của Người.
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà;
Nhân hướng song tiền khan minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khan thi gia.
(Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.)
Hai câu thơ đầu khẽ mở ra nụ cười nhẹ nhàng của thi nhân. Người xưa thưởng trăng thường có rượu, có hoa – những thứ làm cho đêm trăng thêm thi vị. Nhưng trong ngục tối, Bác làm gì có rượu hay hoa? Câu thơ “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa” vang lên như một lời tự sự bình thản mà sâu sắc. Không một lời than trách, chỉ có sự ung dung đón nhận nghịch cảnh. Dù không có rượu hoa, lòng thi nhân vẫn tràn đầy xúc cảm trước vẻ đẹp của đêm trăng. Khi cất lên câu hỏi “Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”, ta thấy trong đó niềm bối rối, xao xuyến, một sự rung động mãnh liệt của trái tim yêu thiên nhiên đến vô cùng. Đối diện khung trời đêm ấy, Bác cảm nhận vẻ đẹp của vũ trụ bằng tất cả tâm hồn tự do của người nghệ sĩ.
Hai câu thơ sau mở ra một bức tranh tuyệt đẹp – cuộc gặp gỡ giữa hai tri âm: người tù và vầng trăng. Giữa họ có song sắt nhà lao, biểu tượng cho sự chia cắt tàn bạo của nhà tù phong kiến. Nhưng thật kỳ diệu, ánh trăng vẫn vượt qua rào sắt để tìm đến người bạn thơ của mình. Một bên là “người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”, bên kia là “trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Hai hình ảnh song hành, đối xứng, tạo nên mối giao hòa tuyệt diệu giữa con người và thiên nhiên. Ánh trăng không chỉ soi sáng căn buồng tù tối tăm, mà còn soi sáng tâm hồn người chiến sĩ. Trong khoảnh khắc ấy, ta cảm nhận rõ: thân thể bị giam cầm, nhưng tinh thần thì hoàn toàn tự do.
Bức tường ngục tù Quảng Tây không thể chia cắt được cuộc đối thoại thầm lặng giữa Bác và trăng. Trăng như người bạn tri kỷ, lặng lẽ lắng nghe, chia sẻ cùng thi nhân. Còn Bác – dù là người tù cách mạng – vẫn giữ phong thái tự tại, an nhiên, thưởng trăng bằng tâm hồn của một thi sĩ. Giữa bóng tối ngục tù, Người tìm thấy ánh sáng của cái đẹp, tìm thấy tự do trong tâm tưởng. Chính khoảnh khắc ấy, “người tù” đã hóa thân thành “thi nhân”, còn ngục thất lại trở thành không gian thi vị để Bác và trăng gặp gỡ.
Bài thơ chỉ có bốn câu ngắn gọn mà chứa đựng chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp nhân cách. Không một lời nói về đấu tranh hay cách mạng, song “Ngắm trăng” vẫn tỏa ra chất “thép” – chất thép của nghị lực, của tinh thần lạc quan và bản lĩnh kiên cường. Ánh trăng trong thơ Bác không chỉ phản chiếu vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn phản chiếu tâm hồn trong sáng, cao cả của người chiến sĩ vĩ đại.
Với “Ngắm trăng”, Hồ Chí Minh đã mang đến cho thi ca Việt Nam một bài thơ trữ tình mang phong vị cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần thời đại. Đó là sự kết tinh của tâm hồn thi sĩ và chiến sĩ, của con người biết tìm cái đẹp, niềm vui và tự do ngay giữa gian khổ. Bởi với Bác, tự do không chỉ là mục tiêu của cách mạng, mà còn là trạng thái của tâm hồn – nơi ánh trăng mãi mãi soi rọi trong lòng người thi nhân – chiến sĩ ấy.

2. Cách làm bài văn mẫu cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng (Vọng nguyệt)
Để viết một bài văn cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác Hồ qua bài thơ “Ngắm trăng” hay, sâu sắc và đạt điểm cao, học sinh cần nắm rõ bố cục, phương pháp lập luận, dẫn chứng nghệ thuật cũng như cách thể hiện cảm xúc chân thành. Dưới đây là hướng dẫn chi tiết:
2.1. Bố cục bài văn cảm nhận
Bài viết nên chia thành 3 phần rõ ràng:
a) Mở bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Ngắm trăng” được Hồ Chí Minh viết trong thời gian bị giam ở Trung Quốc (1942–1943), trích trong tập “Nhật ký trong tù”.
- Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật: Bài thơ thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, phong thái ung dung, tự tại và tinh thần vượt lên trên hoàn cảnh của Bác.
- Dẫn dắt vào vấn đề nghị luận: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác Hồ qua bài thơ “Ngắm trăng”.
b) Thân bài:
Triển khai theo các luận điểm chính, có thể sắp xếp thành 3 phần:
Luận điểm 1: Sự đối lập giữa hoàn cảnh ngục tù và tâm hồn tự do của thi nhân
- Bác viết:
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”
(Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay biết làm sao đây?)
→ Hai câu thơ đầu mở ra nghịch cảnh: không gian tù túng, thiếu thốn vật chất, “vô tửu”, “vô hoa”. Nhưng giữa hiện thực ngục tù ấy, Bác vẫn rung cảm trước vẻ đẹp của trăng.
→ Câu hỏi tu từ “nại nhược hà?” thể hiện tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, nhạy cảm với cái đẹp và nỗi khát khao được hòa mình cùng thiên nhiên.
→ Từ sự thiếu thốn vật chất, Bác tìm đến giá trị tinh thần – ánh trăng, biểu tượng cho tự do, thanh khiết và vẻ đẹp bất diệt.
⮕ Vẻ đẹp tâm hồn thể hiện:
Tình yêu thiên nhiên sâu sắc, sức mạnh tinh thần vượt lên trên xiềng xích, khổ cực.
Luận điểm 2: Phong thái ung dung, lạc quan, chủ động hướng tới tự do
- Câu thơ thứ ba:
“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt”
(Người ngắm trăng sáng ngoài song cửa)
→ Hành động “hướng ra” thể hiện sự chủ động, ý chí mạnh mẽ, không cam chịu bị giam hãm.
→ Nhà tù chỉ trói được thân thể, không thể giam giữ tâm hồn tự do của người chiến sĩ – thi nhân.
→ Trong cảnh khổ, Bác vẫn ung dung, tự tại, hướng ra ngoài song ngắm trăng như một người bạn tri âm.
⮕ Vẻ đẹp tâm hồn thể hiện:
Tinh thần lạc quan, yêu đời, nghị lực phi thường, phong thái bình thản trước gian khổ, biểu hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ cách mạng.

Luận điểm 3: Sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên – đỉnh cao của vẻ đẹp tâm hồn
- Câu thơ cuối:
“Nguyệt tòng song khích khán thi gia”
(Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ)
→ Nghệ thuật nhân hóa và đối xứng tuyệt diệu: người ngắm trăng – trăng ngắm người.
→ Ranh giới vật lý “song khích” (khe cửa tù) biến mất, chỉ còn lại sự giao cảm tâm hồn giữa thi nhân và vầng trăng.
→ Trong khoảnh khắc ấy, Bác không còn là người tù, mà là một thi sĩ tự do, đang trò chuyện cùng thiên nhiên bằng tâm hồn thanh cao, trong sáng.
⮕ Vẻ đẹp tâm hồn thể hiện:
Sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người và vũ trụ; cốt cách thi nhân – chiến sĩ, một tâm hồn vừa kiên cường, vừa tinh tế, vừa trong sáng như ánh trăng.
Luận điểm 4 (nâng cao): Sự kết hợp hài hòa giữa chất thi sĩ và chất chiến sĩ trong con người Hồ Chí Minh
- Trong hoàn cảnh ngục tù, Bác vẫn làm thơ, vẫn rung động trước cái đẹp, chứng tỏ tâm hồn luôn tự do, trong sáng, hướng thiện.
- Bác không than thân trách phận mà biến cảnh tù ngục thành không gian nghệ thuật.
- Đây chính là sự thống nhất giữa lý tưởng cách mạng kiên định và tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn, là biểu hiện rực rỡ của nhân cách Hồ Chí Minh.

c) Kết bài:
- Khẳng định lại vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ: yêu thiên nhiên, yêu tự do, lạc quan và vượt lên hoàn cảnh.
- Liên hệ bản thân: Học tập tinh thần sống tích cực, ung dung, biết tìm niềm vui và ánh sáng giữa khó khăn.

2.2. Một số lưu ý khi làm bài cảm nhận
- Cảm xúc chân thành: Khi viết, hãy để cảm xúc dẫn dắt lý lẽ, thể hiện sự ngưỡng mộ tự nhiên với Bác.
- Dẫn chứng chính xác: Trích thơ ngắn gọn, chọn đúng câu tiêu biểu, tránh chép dài dòng.
- Phân tích kết hợp bình giảng: Giải nghĩa hình ảnh, biện pháp nghệ thuật (nhân hóa, đối, câu hỏi tu từ, biểu tượng ánh trăng...).
- Liên kết mạch lạc: Dùng từ nối hợp lý giữa các luận điểm để bài văn chặt chẽ, tự nhiên.
- Thể hiện cảm nhận cá nhân: Nêu rõ cảm xúc riêng (thán phục, xúc động, tự hào) để bài viết có hồn.
2.3. Dàn ý tóm tắt bài văn mẫu cảm nhận
| Phần | Nội dung chính | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Mở bài | Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, giá trị bài thơ. | Gợi mở vấn đề cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn Bác. |
| Thân bài | 1. Sự đối lập giữa hiện thực tù đày và tâm hồn tự do. 2. Phong thái ung dung, lạc quan, chủ động hướng tới ánh sáng. 3. Sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên – đỉnh cao tinh thần tự do. 4. Sự hòa quyện giữa chất chiến sĩ và thi nhân. | Làm rõ các khía cạnh của vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh. |
| Kết bài | Khẳng định giá trị và nêu cảm nhận cá nhân. | Mở rộng ý nghĩa: học tập tinh thần sống đẹp, vượt khó. |
2.4. Mẫu kết bài gợi ý
Bài thơ “Ngắm trăng” không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật xuất sắc mà còn là một bài học sâu sắc về nhân cách, tinh thần và nghị lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dù trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt, Bác vẫn giữ tâm hồn thanh cao, luôn tìm thấy cái đẹp, cái sáng giữa bóng tối. Hình ảnh Người ngắm trăng qua song cửa đã trở thành biểu tượng bất diệt của tự do tinh thần và vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua bài thơ Ngắm trăng hay nhất do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo.