1. Căn cứ pháp lý của việc định tội danh

Dưới góc độ khoa học luật hình sự những căn cứ pháp lý của việc định tội danh có thể được hiểu trên hai bình diện (hoặc theo hai nghĩa) rộng và hẹp dưới đây.

Trên bình diện rộng (hiểu theo nghĩa cả về nội dung và hình thức), thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã được thực hiện là tội phạm.

Trên bình diện hẹp (chỉ hiểu theo nghĩa về nội dung), thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là chỉ có hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm.

Ngoài việc áp dụng điều luật quy định tội phạm cụ thể, thực tiễn vụ án có sự đa dạng về nhiều vấn đề khác mà đòi hỏi khi định tội danh cần căn cứ vào các điều luật trong phần chung Bộ luật hình sự như: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, tái phạm nguy hiểm, ... mới xác định tội danh chính xác.

Từ đó có thể thấy Bộ luật hình sự - căn cứ pháp lý trực tiếp của việc định tội danh. Như vậy trong quá trình định tội danh nếu hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ về nội dung) thì BLHS có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, vì nó đóng vai trò là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) của việc định tội danh.

2. Căn cứ khoa học của việc định tội danh

Cấu thành tội phạm chính là căn cứ khoa học của việc định tội danh. Hiện tại trong khoa học luật hình sự khái niệm cấu thành tội phạm vẫn còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, về cơ bản, quan điểm được thừa nhận rộng rãi về khái niệm của cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong pháp luật hình sự.

Trên cơ sở phân tích khoa học lý luận về cấu thành tội phạm và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về định tội danh, theo quan điểm của tác giả, có thể đưa ra định nghĩa khoa học ngắn gọn của khái niệm cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.

Nói cách khác, một cấu thành tội phạm cụ thể là tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan bắt buộc, mà bằng các dấu hiệu đó, nhà làm luật quy định tại quy phạm của Phần các tội phạm BLHS tính chất tội phạm và tính chất bị xử phạt (hay còn gọi là tính chất bị xử lý về hình sự) của hành vi nguy hiểm cho xã hội tương ứng bị luật hình sự cấm, đồng thời chỉ ra loại hình phạt nào và trong giới hạn nào nó có thể được Tòa án áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm ấy.

Việc nghiên cứu những vấn đề về cấu thành tội phạm, chính vì thế, có ý nghĩa pháp lý hình sự rất quan trọng đối với quá trình định tội danh, về định tội danh chính xác tức là xác định đúng sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất định nào đó được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng - các dấu hiệu được quy định tại một quy phạm pháp luật hình sự cụ thể của phần các tội phạm trong BLHS.

Từ khái niệm cấu thành tội phạm đã được đưa ra trên đây cho thấy, bất kỳ cấu thành tội phạm cũng phải có các đặc điểm cần và đủ như sau:

- Cấu thành tội phạm là một hệ thống các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc;

- Các dấu hiệu pháp lý này của cấu thành tội phạm nhất thiết phải được quy định trong pháp luật hình sự thực định;

- Chỉ có trên cơ sở tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý này của cấu thành tội phạm thì mới có căn cứ để khẳng định một hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó bị luật hình sự cấm và đã được thực hiện trong thực tế chính là một tội phạm;

Cuối cùng, cấu thành tội phạm chính là mô hình pháp lý của tội phạm.

Yếu tố của cấu thành tội phạm có thể được định nghĩa là bộ phận hợp thành của cấu trúc trong cấu thành ấy và bao gồm một nhóm các dấu hiệu tương ứng với các phương diện (các mặt) của hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm (tức là hành vi bị nhà làm luật coi là tội phạm). Quan điểm truyền thống được thừa nhận chung trong khoa học luật hình sự là: cấu thành tội phạm có bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể  và mặt chủ quan của tội phạm. Để nhận thấy rõ bản chất của mỗi yếu tố cấu thành tội phạm, dưới đây chúng ta cần phải đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm của từng yếu tố như sau:

-  Khách thể của tội phạm: là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định.

- Mặt khách quan của tội phạm: mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan.

- Chủ thể của tội phạm: là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể còn là có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định).

- Mặt chủ quan của tội phạm:  mặt bên trong của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành vị đó (lỗi).

Với bốn yếu tố cấu thành tội phạm nêu trên, chúng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, mỗi yếu tố cấu thành tội phạm đều biểu hiện một nội dung cụ thể và tổng hợp bốn yếu tố cấu thành tội phạm phản ánh mối liên hệ quan hệ tâm lý, thái độ bên trong của một người với hành vi do chính họ thực hiện ra bên ngoài thế giới khách quan gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

3. Các bước trong quá trình định tội danh

Để việc định tội danh đúng dắn, chính xác, người định tội danh cần tiến hành tuần tự theo các bước sau:

- Xác định hành vi được thực hiện trên thực tế

- Xác định CTTP (quy phạm PL quy định tội phạm)

- Xác định sự phù hợp giữa hành vi được thực hiện với CTTP

=> xác định quy phạm PL cần áp dụng

Bước 1. Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án).

Đây là khâu rất quan trọng trong việc định tội danh. Hình dung như thế nào về sự thật đã xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc định tội danh.

- Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện.

- Việc thu thập các tình tiết khách quan phải chính xác, trung thực, khách quan, khoa học.

=> Phương pháp nhận thức:

Việc nhận thức chân lý về vụ án phải tuân theo những qui tắc lôgic nhất định như việc nhận thức mọi sự vật, hiện thực khách quan.

Trước hết cần thu thập chứng cứ, tiếp đến chứng cứ cần được phân tích, được phân ra từng phần, làm sáng tỏ từng chi tiết cụ thể, từng mặt của các sự kiện được nghiên cứu. Sau đó rút ra kết luận khái quát tổng hợp chung về sự kiện được nghiên cứu.

Việc nghiên cứu thường được tiến hành bằng cả phương pháp qui nạp và phương pháp suy diễn, tức là từ những sự kiện riêng lẻ đến những kết luận chung nhất, từ những luận điểm khái quát đến những kết luận cụ thể đối với các sự kiện, tình tiết cụ thể và các dấu hiệu, các mặt cụ thể của nó.

Bước 2. Xác định QPPL hình sự tương ứng (Xác định cấu thành tội phạm)

Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự (xác định khách thể loại)? Từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế. Chúng ta cần kiểm tra các dấu hiệu của từng cấu thành tội phạm này để xác định được cấu thành tội phạm phù hợp với tình tiết thực tế của vụ án nhất.

Bước 3. Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS

Người định tội danh sau khi xác định sự thật khách quan của vụ án và lựa chọn được CTTP có dấu hiệu tương ứng cần phải kiểm tra lại để xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS. Nếu thấy các tình tiết của hành vi đã thực hiện hoàn toàn phù hợp với các dấu hiệu của 1 tội phạm cụ thể thì phải kết luận hành vi đã thực hiện phạm tội đó. Nếu thấy không phù hợp thì phải xác định lại xem hành vi đó có thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một tội khác không hay là không phạm tội.

Bước 4: Xác định khung hình phạt

Việc xác định khung hình phạt chính xác cũng là cơ sở để xác định đúng tội danh, đặc biệt là trong những trường hợp dấu hiệu định khung của một tội có thể là dấu hiệu định tội của một tội khác.

Xem thêm: Cơ sở pháp lý của việc định tội danh là gì? Các giai đoạn thực hiện định tội danh?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Căn cứ pháp lý, căn cứ khoa học của việc định tội danh mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!