Việc áp dụng hình thức nộp phạt tại chỗ thường mang lại lợi ích về thời gian cho những người vi phạm. Vì vậy, pháp luật đã quy định rõ những trường hợp nào sẽ áp dụng hình thức này cho Cảnh sát giao thông (CSGT). Dưới đây, chúng tôi sẽ tư vấn và cung cấp thông tin chi tiết về quy định này.

 

1. Quy định về vi phạm giao thông không lập biên bản 

Về vấn đề xử phạt hành chính không lập biên bản, Luật Xử lý vi phạm hành chính 212 đã quy định như sau:

Theo Điều 56, hình phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền không quá 250.000 đồng đối với cá nhân và không quá 500.000 đồng đối với tổ chức. Người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

Đối với trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện thông qua việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật hoặc nghiệp vụ, thì cần lập biên bản.

Theo Điều 57, hình phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân hoặc tổ chức mà không thuộc trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 1 của Điều 56.

Vì vậy, khi xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản, quyết định xử phạt cần ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; và điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền, số tiền phạt cũng cần được ghi rõ trong quyết định.

 

2. Các trường hợp xử phạt vi phạm giao thông không lập biên bản

Theo các quy định hiện hành, so sánh với Nghị định 100/2019/NĐ-CP, có những vi phạm giao thông không yêu cầu lập biên bản như sau:

  • Đối với người điều khiển xe mô tô (xe máy):

Theo Điều 6, Khoản 1 và Điều 17, Khoản 1 của Nghị định 100/2019/NĐ-CP, các lỗi vi phạm giao thông không yêu cầu lập biên bản bao gồm:

  1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng cho người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (bao gồm cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy, trong trường hợp vi phạm một trong các hành vi sau:

a) Không tuân thủ hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu và vạch kẻ đường;

b) Không báo hiệu trước khi vượt, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy trước, không giữ khoảng cách theo quy định bởi biển báo hiệu "Cự ly tối thiểu giữa hai xe";

c) Không nhường quyền đi trước khi chuyển hướng cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật tại nơi có vạch kẻ đường dành riêng cho người đi bộ, hoặc cho xe thô sơ đang đi trên phần đường dành riêng cho xe thô sơ;

d) Không nhường đường khi chuyển hướng cho các xe đi ngược chiều, người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật tại nơi không có vạch kẻ đường dành riêng cho người đi bộ;

e) Lùi xe mô tô ba bánh mà không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước;

g) Chở người ngồi trên xe sử dụng ô (dù);

h) Không tuân thủ quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau;

i) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước;

k) Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 03 xe trở lên;

l) Không sử dụng đèn chiếu sáng từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, hoặc trong trường hợp sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn;

m) Tránh xe không đúng quy định, sử dụng đèn chiếu xa khi tránh xe đi ngược chiều, không nhường đường cho xe đi ngược chiều tại những đoạn đường hẹp, đường dốc, hoặc nơi có chướng ngại vật;

n) Sử dụng còi trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ trường hợp các xe ưu tiên đang hoạt động theo quy định;

o) Sử dụng thiết bị phát tín hiệu ưu tiên không đúng quy định hoặc sử dụng thiết bị phát tín hiệu ưu tiên đã hết hạn sử dụng, mà không có Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc có Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp nhưng không còn giá trị sử dụng theo quy định;

p) Quay đầu xe tại nơi không được phép, trừ trường hợp vi phạm quy định tại điểm d, Khoản 4 của Điều này;

q) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu đối với những đoạn đường có quy định tốc độ tối thiểu.

...

Theo Điều 17, Khoản 1 của Nghị định 100/2019/NĐ-CP, vi phạm điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (bao gồm cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Các vi phạm bao gồm:

a) Điều khiển xe mà không có còi, đèn chiếu sáng biển số, đèn báo hãm, gương chiếu hậu bên trái của người điều khiển hoặc có nhưng không hoạt động;

b) Gắn biển số không đúng quy định, gắn biển số không rõ chữ số, bị bẻ cong, che lấp hoặc hỏng, sơn hoặc dán thêm làm thay đổi chữ số hoặc màu sắc của biển số;

c) Điều khiển xe mà không có đèn tín hiệu hoặc có nhưng không hoạt động;

d) Sử dụng còi không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật theo từng loại xe;

đ) Điều khiển xe mà không có bộ phận giảm thanh, giảm khói hoặc có nhưng không đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường về khí thải và tiếng ồn;

e) Điều khiển xe mà không có đèn chiếu sáng gần và xa hoặc có nhưng không hoạt động, không đúng tiêu chuẩn thiết kế;

g) Điều khiển xe mà không có hệ thống phanh hoặc có nhưng không hoạt động, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật;

h) Lắp đèn chiếu sáng phía sau xe.

Do đó, những vi phạm trên đây dưới 250.000 đồng đối với xe mô tô, xe gắn máy (bao gồm cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy sẽ bị xử phạt theo quy tắc giao thông đường bộ.

Chú ý: Nếu các vi phạm này được phát hiện thông qua việc sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật và nghiệp vụ, thì phải lập biên bản.

  • Đối với người điều khiển ô tô

Theo Điều 5 của Nghị định 100/2019/NĐ-CP, mức phạt tối thiểu đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ là từ 200.000 đến 400.000 đồng. Vì vậy, khi người điều khiển xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, người xử phạt phải lập biên bản.

Với những lỗi không yêu cầu lập biên bản, người dân có thể trực tiếp nộp phạt tại chỗ cho Cảnh sát giao thông.

 

3. Việc quy định các trường hợp cảnh sát giao thông được phạt tại chỗ nhằm mục đích gì?

Việc quy định các trường hợp cảnh sát giao thông được phạt tại chỗ có mục đích nhằm đảm bảo tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ và tăng cường trật tự an toàn giao thông. Bằng cách áp dụng hình thức phạt tại chỗ, cảnh sát giao thông có thể nhanh chóng xử lý các vi phạm và tăng cường sự chấp hành luật giao thông từ phía người tham gia giao thông.

Mục đích chính của việc phạt tại chỗ là:

  • Tăng cường tuân thủ quy tắc giao thông: Việc áp dụng hình thức phạt tại chỗ nhằm tạo ra sự gián tiếp và nhanh chóng cho người vi phạm, giúp họ nhận ra hành vi sai trái và nhớ lại quy tắc giao thông. Điều này góp phần cải thiện hành vi tham gia giao thông của người dân và giảm nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông.
  • Tạo trật tự an toàn giao thông: Phạt tại chỗ giúp ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm giao thông, đảm bảo trật tự và an toàn giao thông trên các tuyến đường. Bằng cách có mặt trực tiếp trên đường, cảnh sát giao thông có thể ngăn chặn ngay lập tức những hành vi nguy hiểm, như vi phạm vượt ẩu, không đeo thắt lưng an toàn, sử dụng điện thoại khi lái xe, v.v.
  • Tạo lòng tin và công bằng: Phạt tại chỗ đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý vi phạm giao thông. Người vi phạm được nhìn thấy sự trực tiếp của cảnh sát giao thông và có thể hiểu rõ lý do và quy định vi phạm. Điều này giúp tạo lòng tin của người dân đối với cơ quan chức năng và quy tắc giao thông.

Tóm lại, việc áp dụng hình thức phạt tại chỗ trong quản lý giao thông giúp tăng cường tuân thủ quy tắc giao thông, duy trì trật tự an toàn giao thông và tạo lòng tin của người dân đối với quy định và công tác quản lý giao thông.

Công ty Luật Minh Khuê xin gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn pháp lý hữu ích và đáng tin cậy. Chúng tôi hiểu rằng quý khách hàng có thể đang đối mặt với nhiều vấn đề pháp lý khác nhau hoặc có những câu hỏi cần được giải đáp. Vì vậy, chúng tôi muốn đồng hành cùng quý khách hàng và sẵn lòng hỗ trợ.

Để được tư vấn và giải đáp thắc mắc, quý khách hàng có thể liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để lắng nghe và cung cấp sự hỗ trợ chuyên nghiệp và đáng tin cậy.

Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết của mình qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ phản hồi nhanh chóng và cung cấp giải đáp chi tiết đến từng câu hỏi mà quý khách hàng gửi đến.

Công ty Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và tin tưởng của quý khách hàng. Chúng tôi sẽ nỗ lực để đáp ứng và vượt qua mọi yêu cầu và mong muốn của quý khách hàng với tính pháp lý và chất lượng dịch vụ hàng đầu.