1. Điện lực được cắt điện trong trường hợp nào?

Bên bán điện được ngừng, giảm mức cung cấp điện trong các trường hợp sau theo Điều 14 Nghị định 137/2013/NĐ-CP như sau:

- Thứ nhất, ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp: Bên bán điện phải thông báo cho bên mua điện biết trước thời điểm ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện ít nhất 05 ngày bằng cách thông báo trong 03 ngày liên tiếp trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức khác;

- Thứ hai, ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp:

+ Do sự cố, sự kiện bất khả kháng mà bên bán điện không kiểm soát được có nguy cơ làm mất an toàn nghiệm cho người, trang thiết bị hoặc do thiếu nguồn điện đe dọa đến an toàn của hệ thống điện

+ Đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện được ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện đối với bên mua điện để xử lý và trong thời hạn 24 giờ phải thông báo cho bên mua điện biết nguyên nhân, dự kiến thời gian cấp điện trở lại.

- Thứ ba, bên mua điện có một trong các hành vi:

+ Phá hoại các trang thiết bị điện, thiết bị đo đếm điện và công trình điện lực;

+ Vi phạm các quy định về an toàn trong phát điện, truyền tải điện, phân phối điện và sử dụng điện;

+ Cản trở việc kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện;

+ Trộm cắp điện;

+ Dùng điện để bẫy, bắt động vật hoặc làm phương tiện bảo vệ trừ trường hợp được Nhà nước cấp phép sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp;

+ Vi phạm các quy định về bảo vệ hành lang an toàn lưới điện, khoảng cách an toàn của đường dây và trạm điện.

- Thứ tư, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về điện lực, xây dựng, bảo vệ môi trường.

Đối chiếu quy định trên thì bên bán điện chỉ được ngừng, giảm mức cung cấp điện nếu thuộc các trường hợp nêu trên.

Theo đó, trong trường hợp cắt điện không khẩn cấp, bên bán điện phải thông báo trước ít nhất 05 ngày cho người dân.

 

2. Thông báo trước về việc cắt điện như thế nào?

Như quy định nêu trên và căn cứ theo Điều 4 Thông tư 22/2020/TT-BCT, mọi trường hợp ngừng, giảm mức cung cấp điện, bên bán điện phải thông báo trước cho bên mua điện, trừ trường hợp trộm cắp điện.

Trong đó, nội dung thông báo phải đảm bảo có các thông tin gồm:

- Địa điểm ngừng, giảm mức cung cấp điện; mức công suất giảm hoặc khả năng cung cấp tối đa trong trường hợp giảm mức cung cấp điện;

- Lý do ngừng, giảm mức cung cấp điện;

- Thời gian bắt đầu ngừng, giảm mức cung cấp điện;

- Thời điểm dự kiến đóng điện trở lại hoặc bảo đảm mức cung cấp điện bình thường.

Theo đó, thông báo này sẽ được gửi đến người mua dưới các hình thức như:

  • Văn bản, điện báo, điện thoại, fax, tin nhắn (SMS), thư điện tử (email)…
  • Các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức liên lạc khác do hai bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng mua bán điện.

 

3. Cắt điện không báo trước, công ty cung cấp điện lực có bị xử phạt không?

Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà đơn vị cung cấp điện, người có trách nhiệm cung ứng điện sẽ bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự đối với hành vi cắt điện không thông báo trước.

- Xử phạt hành chính

Trong trường hợp phải thông báo mà Công ty Điện lực không thông báo cho người dân biết sẽ bị phạt tiền từ 50 - 60 triệu đồng theo điểm b khoản 7 Điều 11 Nghị định 17/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 134/2013/NĐ-CP, cụ thể:

- Phạt tiền Đơn vị bán lẻ điện từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

+ Bán sai giá điện do cơ quan có thẩm quyền quy định;

+ Thực hiện không đúng quyền hạn về ngừng, giảm mức cung cấp điện; không thông báo hoặc thực hiện không đúng nội dung thông báo theo Quy định về trình tự ngừng, giảm mức cung cấp điện do Bộ Công Thương ban hành.

- Xử lý hình sự

Trường hợp người có trách nhiệm trong việc cung ứng điện mà cắt điện không có căn cứ hoặc không thông báo cắt điện cho người dân biết thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 199 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 46 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 với mức phạt tù cao nhất lên tới 07 năm, cụ thể như sau:

- Người nào có trách nhiệm mà đóng điện, cắt điện, từ chối cung cấp điện trái quy định của pháp luật hoặc trì hoãn việc xử lý sự cố điện không có lý do chính đáng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; d) Đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Làm chết 02 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

 

4. Trình tự cắt điện khi bên mua không thanh toán tiền điện như thế nào?

Bộ Công Thương mới đây đã ban hành Thông tư 22/2020/TT-BCT về việc quy định điều kiện, trình tự ngừng, giảm mức cung cấp điện, có hiệu lực từ ngày 30/10/2020.

Bên mua điện không thực hiện thanh toán tiền điện theo quy định tại khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực là một trong những trường hợp bị ngừng cấp điện.

Trình tự ngừng cấp điện trong trường hợp này như sau:

- Trường hợp không có thỏa thuận lùi ngày thanh toán tiền điện và bên mua điện đã được bên bán điện thông báo về việc thanh toán tiền điện 02 lần thì sau 15 ngày kể từ ngày thông báo lần đầu tiên, bên bán điện có quyền ngừng cấp điện cho bên mua điện;

- Trường hợp bên mua điện có đề nghị thoả thuận và được bên bán điện đồng ý lùi ngày thanh toán tiền điện, nếu quá thời hạn thoả thuận lùi ngày thanh toán tiền điện mà bên mua điện vẫn chưa thanh toán đủ tiền điện và cả tiền lãi của khoản tiền điện chậm trả (nếu có), bên bán điện có quyền ngừng cấp điện cho bên mua điện;

Khi thực hiện ngừng cấp điện, bên bán điện phải thông báo cho bên mua điện trước thời điểm ngừng cấp điện ít nhất 24 giờ và không phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại do việc ngừng cấp điện gây ra.

Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề "Cắt điện không báo trước, công ty cung cấp điện lực có bị xử phạt không?" mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết Tự ý cắt điện không thông báo cho người dân có vi phạm luật không ? của Luật Minh Khuê. Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư Nguyễn Thị Phương qua số điện thoại: 0985465912 hoặc hotline: 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh hợp tác với quý khách hàng. Trân trọng.