1. Chánh tư duy (Suy nghĩ đúng)

CHÁNH TƯ DUY THẾ TỤC VÀ XUẤT THẾ

Và này, Chánh Tư Duy, Ta nói có hai loại:

1. Tư duy không có tham dục, không có sân hận, không có ác hại—đây gọi là "Chánh Tư Duy thế tục", cho quả lành, cho quả thế tục.

2. Ở đây, bất cứ điều gì thuộc về suy tư, suy xét, suy ngẫm, suy luận, suy nghiệm, tư duy—khiến tâm trở nên cao quý, cái tâm lúc này rút ra khỏi thế giới và liên hệ với con đường, con đường thánh được theo đuổi—những "hoạt động ngôn ngữ" này của tâm, được gọi là "Chánh Tư Duy xuất thế", không thuộc thế tục, siêu thế, liên hệ với con đường.

 

LIÊN HỆ VỚI CÁC CHI PHẦN KHÁC

Ở đây, một người hiểu biết tà tư duy là tà tư duy và hiểu biết chánh tư duy là chánh tư duy, người ấy tu tập "Chánh Tri Kiến" (chi phần thứ nhất). Một người nỗ lực từ bỏ tà tư duy và nỗ lực thành tựu chánh tư duy, người ấy tu tập "Chánh Tinh Tấn" (chi phần thứ 6). Một người chú tâm từ bỏ tà tư duy và chú tâm thành tựu chánh tư duy, người ấy tu tập "Chánh Niệm" (chi phần thứ 7). Bởi vậy, có ba điều luôn đi cùng và đi theo Chánh Tư Duy, đó là "Chánh Tri Kiến", "Chánh Tinh Tấn", và "Chánh Niệm".

 

2. Chánh ngữ (Lời nói đúng)

Và này, thế nào Chánh Ngữ?

 

TRÁNH XA NÓI DỐI

Ở đây, một người từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, người ấy nói những lời chân thật, trung thực, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Ở nơi hội họp hay đến chỗ đông người, giữa những người thân hay tại các đoàn hội, hay đến giữa các vương tộc, khi bị gọi ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì người biết". Nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết". Nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết". Hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy". Nếu thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không trở thành sự cố tình dối trá, nguyên nhân không phải vì mình, không phải vì người, không phải vì một vài quyền lợi gì.

 

TRÁNH XA NÓI LỜI CHIA RẼ

Người ấy từ bỏ nói lời chia rẽ, tránh xa nói lời chia rẽ, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói để gây chia rẽ ở chỗ kia; nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói để gây chia rẽ ở chỗ này. Như vậy người ấy làm hòa hợp những người mâu thuẫn, làm bền vững những người hòa hợp, vui vẻ trong  hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.

 

TRÁNH XA NÓI LỜI ĐỘC ÁC

Từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, người ấy nói những lời hiền hòa, êm tai, dễ mến, chạm đến tấm lòng, tao nhã, thân thiện, đẹp lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy.

Trong Trung bộ Kinh 21, Đức Phật nói như sau: "Ngay cả, này các Tỳ-kheo, khi những kẻ sát nhân và đạo tặc dùng lưỡi cưa cắt bỏ tứ chi của các người, những ai khởi lên dù chỉ một ác niệm thì người đó cũng không thực hành lời dạy của Ta. Vậy nên các người hãy tu tập như sau: "Không lo âu là tâm chúng ta, những lời ác sẽ không nói bởi ta, đầy tình thương và lòng nhân ái, tâm ta sẽ toả đi khắp bốn phương, với tấm lòng vô biên cao thượng, không thù hận và không còn ác tâm".

 

TRÁNH XA NÓI LỜI PHÀM PHIẾM

Từ bỏ nói lời phàm phiếm, tránh xa nói lời phàm phiếm,  người ấy nói đúng thời, nói đúng sự thực, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp và đức hạnh, nói những lời đáng được gìn giữ, hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, liên hệ đến mục đích.

Như vậy gọi là Chánh Ngữ.

 

CHÁNH NGỮ THẾ TỤC VÀ XUẤT THẾ

Và này, Chánh Ngữ, Ta nói có hai loại:

1. Tránh xa nói dối, tránh xa nói lời chia rẽ, tránh xa nói lời độc ác, tránh xa nói lời phàm phiếm—đây gọi là "Chánh Ngữ thế tục", cho quả lành, cho quả thế tục.

2. Những sự từ bỏ bốn loại tà ngữ này, sự dứt bỏ, buông bỏ, xa rời khỏi chúng—khiến tâm trở nên cao quý, cái tâm lúc này rút ra khỏi thế giới và liên hệ với con đường, con đường thánh được theo đuổi—đó được gọi là "Chánh Ngữ xuất thế", không thuộc thế tục, siêu thế, liên hệ với con đường.

 

LIÊN HỆ VỚI CÁC CHI PHẦN KHÁC

Ở đây, một người hiểu biết tà ngữ là tà ngữ và hiểu biết chánh ngữ là chánh ngữ, người ấy tu tập "Chánh Tri Kiến" (chi phần thứ nhất). Một người nỗ lực từ bỏ tà ngữ và nỗ lực thành tựu chánh ngữ, người ấy tu tập "Chánh Tinh Tấn" (chi phần thứ 6). Một người chú tâm từ bỏ tà ngữ và chú tâm thành tựu chánh ngữ, người ấy tu tập "Chánh Niệm" (chi phần thứ 7). Bởi vậy, có ba điều luôn đi cùng và đi theo Chánh Ngữ, đó là "Chánh Tri Kiến", "Chánh Tinh Tấn", và "Chánh Niệm".

 

3. Chánh nghiệp (Hành động đúng)

Và này, thế nào là Chánh Nghiệp?

TRÁNH XA SÁT SINH

Ở đây, một người từ bỏ giết hại các sinh vật, tránh xa sự giết hại các sinh vật. Bỏ gậy, bỏ kiếm, biết hổ thẹn, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sinh và muôn loài.

 

TRÁNH XA TRỘM CẮP

Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, nếu không cho người ấy, người ấy không lấy với ý niệm trộm cắp.

 

TRÁNH XA TÀ DÂM

Người ấy từ bỏ tình dục bất chính, tránh xa sự tình dục bất chính, không bất chính với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, người đã có chồng, người phạm tội, cho đến cả những nữ nhân đã được kén gả.

Như vậy gọi là Chánh Nghiệp.

 

CHÁNH NGHIỆP THẾ TỤC VÀ XUẤT THẾ

Và này, Chánh Nghiệp, Ta nói có hai loại:

1. Tránh xa sát sinh, tránh xa trộm cắp, tránh xa tà dâm— đây gọi là "Chánh Nghiệp thế tục", cho quả lành, cho quả thế tục.

2. Những sự từ bỏ ba loại tà nghiệp này, sự dứt bỏ, buông bỏ, xa rời khỏi chúng—khiến tâm trở nên cao quý, cái tâm lúc này rút ra khỏi thế giới và liên hệ với con đường, con đường thánh được theo đuổi—đó được gọi là "Chánh Nghiệp xuất thế", không thuộc thế tục, siêu thế, liên hệ với con đường.

 

LIÊN HỆ VỚI CÁC CHI PHẦN KHÁC

Ở đây, một người hiểu biết tà nghiệp là tà nghiệp và hiểu biết chánh nghiệp là chánh nghiệp, người ấy tu tập "Chánh Tri Kiến" (chi phần thứ nhất). Một người nỗ lực từ bỏ tà nghiệp và nỗ lực thành tựu chánh nghiệp, người ấy tu tập "Chánh Tinh Tấn" (chi phần thứ 6). Một người chú tâm từ bỏ tà nghiệp và chú tâm thành tựu chánh nghiệp, người ấy tu tập "Chánh Niệm" (chi phần thứ 7). Bởi vậy, có ba điều luôn đi cùng và đi theo Chánh Nghiệp, đó là "Chánh Tri Kiến", "Chánh Tinh Tấn", và "Chánh Niệm".

 

4. Chánh mạng (mưu sinh đúng)  

Và này, thế nào là Chánh Mạng?

Ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ sự mưu sinh sai trái, tự nuôi sống bản thân một cách chân chánh, như vậy gọi là Chánh Mạng.

Trong Trung Bộ Kinh 117 có nói: "Lừa đảo, gian trá, mê tín, mưu gian, lấy lợi cầu lợi; như vậy, này các Tỳ-kheo, là tà mạng" Và trong Tăng Chi Bộ Kinh 5.177 có nói: "Có năm nghề buôn bán này, một người đệ tử không nên làm. Thế nào  là  năm? Buôn bán vũ khí, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn  bán rượu, buôn bán chất độc."

Ở đây tính cả những nghề nghiệp như là nghề lính, nghề đánh cá, nghề săn bắn, v.v…

 

CHÁNH MẠNG THẾ TỤC VÀ XUẤT THẾ

Và này, Chánh Mạng, Ta nói có hai loại:

1. Ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ sự mưu sinh sai trái, tự nuôi sống bản thân một cách chân chánh—đây gọi là "Chánh Nghiệp thế tục", cho quả lành, cho quả thế tục.

2. Sự từ bỏ các tà mạng này, sự dứt bỏ, buông bỏ, xa rời khỏi chúng—khiến tâm trở nên cao quý, cái tâm lúc này rút ra khỏi thế giới và liên hệ với con đường, con đường thánh được theo đuổi—đó được gọi là "Chánh Mạng xuất thế", không thuộc thế tục, siêu thế, liên hệ với con đường.

 

LIÊN HỆ VỚI CÁC CHI PHẦN KHÁC

Ở đây, một người hiểu biết tà mạng là tà mạng và hiểu biết chánh mạng là chánh mạng, người ấy tu tập "Chánh Tri Kiến" (chi phần thứ nhất). Một người nỗ lực từ bỏ tà mạng và nỗ lực thành tựu chánh mạng, người ấy tu tập "Chánh Tinh Tấn" (chi phần thứ 6). Một người chú tâm từ bỏ tà mạng và chú tâm thành tựu chánh mạng, người ấy tu tập "Chánh Niệm" (chi phần thứ 7). Bởi vậy, có ba điều luôn đi cùng và đi theo Chánh Mạng, đó là "Chánh Tri Kiến", "Chánh Tinh Tấn", và "Chánh Niệm".

Nguồn:  Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)