1. Chủ nghĩa hiện thực là gì?

Chủ nghĩa hiện thực (tiếng Anh: realism) là một trường phái lý thuyết trong ngành khoa học chính trị quan hệ quốc tế, bên cạnh chủ nghĩa tự do, mà nghiên cứu về sự phân chia quyền lực trong hệ thống quốc tế.

Chủ nghĩa hiện thực cổ điển cho rằng chính bản chất ích kỷ, ham muốn quyền lực và ý muốn thống trị của con người đã khiến các quốc gia và các cá nhân đặt lợi ích lên trên các ý thức hệ. Nói cách khác, chủ nghĩa hiện thực cổ điển nhấn mạnh cấp độ phân tích cá nhân trong chính trị quốc tế.

2. Nguồn gốc chủ nghĩa hiện thực?

Chủ nghĩa hiện thực chính trị có lịch sử lâu đời, xuất phát từ các tài liệu của Thucydides về cuộc chiến tranh Peloponnese. Những nhân vật khác ảnh hưởng đến suy nghĩ hiện thực là nhà triết học người Ý Nicolo Machiavelli vào thế kỷ XVI và nhà triết học người Anh Thomas Hobbles vào thế kỷ XVII. Chủ nghĩa hiện thực xứng đáng có một sự xem xét cẩn thận vì thế giới quan của nó tiếp tục chỉ dẫn nhiều tư duy về chính trị quốc tế.

3. Thế giới quan hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực khi được áp dụng vào chính trị quốc tế xem các quốc gia-dân tộc là chủ thể quan trọng nhất trên trường thế giới vì chúng không chịu sự quản lý của một thẩm quyền chính trị nào cao hơn. Quốc gia có chủ quyền: họ có quyền hạn tối cao đối với lãnh thổ và dân số của mình và không ai đứng trên họ nắm giữ tính hợp pháp và khả năng ép buộc để điều hành hệ thống quốc tế. Vì thiếu vắng một chính quyền cao hơn để bảo vệ và giải quyết xung đột giữa các quốc gia nên các nhà hiện thực mô tả chính trị thế giới như một cuộc đấu tranh giành quyền lực liên tục và không ngừng nghỉ, nơi mà kẻ mạnh thống trị kẻ yếu –giống như Thucydides đã miêu tả trong chương về đảo Melos. Vì rốt cuộc thì mỗi quốc gia mới chính là người chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của chính mình và cảm thấy bất an với ý định của nước láng giềng, chủ nghĩa hiện thực cho rằng các nhà lãnh đạo chính trị khôn ngoan tìm kiếm sức mạnh và đồng minh để tăng cường an ninh quốc gia. Nói cách khác, tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế dẫn đến việc thậm chí các nhà lãnh đạo có thiện chí cũng phải thực hành việc tự cứu bằng cáchtăng cường sức mạnh quân sự và liên minh với nước khác để chống lại mối đe dọa tiềm tàng. Lý thuyết hiện thực không loại trừ khả năng các cường quốc đối địch hợp tác với nhau trong vấn đề quản lý vũ khí hay vấn đề an ninh mang lại lợi ích chung. Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực khẳng định rằng hợp tác là rất hiếm vì các quốc gia lo lắng về sự chia sẻ lợi phần tương đối có đượctừ sự hợp tác và lo lắng khả năng bên còn lại sẽ bội ước.

Người theo chủ nghĩa hiện thực, vốn nhấn mạnh bản chất tàn nhẫn của chính trị quốc tế, có khuynh hướng hoài nghi về vai trò của các cân nhắc đạo đức trong các cuộc thảo luận về chính sách đối ngoại. Theo họ thì các chính sách được định hướng bởi yêu cầu chiến lược và có khả năng buộc các nhà lãnh đạo quốc gia làm trái với các quy chuẩn đạo đức.  Gắn với “triết lý của sự cần thiết này” là sự phân biệt giữa đạo đức cá nhân, vốn định hướng hành vi của người bình thường trong cuộc sống hàng ngày và lý do của quốc gia (raison d’état) vốn chi phối cách hành xử của các nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm với an ninh và sự tồn tại của quốc gia. Bất cứ hành động nào liên quan đến lợi ích của an ninh quốc gia bắt buộc phải được thực hiện dù hành động đó có đi ngược lại đạo đức cá nhân. Vì vậy lập luận này cho rằng “phớt lờ lợi ích của mình, lãng phí nguồn lực của quốc gia vì lòng vị tha là con đường nhanh nhất dẫn đến sự hủy hoại quốc gia”. Đối với các nhà lãnh đạo quốc gia, “suy nghĩ bằng con tim là một tội lỗi nghiêm trọng. Chính sách đối ngoại không phải là hoạt động công tác xã hội” (Krauthammer 1993).

4. Sự phát triển của tư duy hiện thực

Chúng ta đã xem xét làm thế nào mà nguồn gốc tri thức của chủ nghĩa hiện thực chính trị lại xuất phát từ thời Hy Lạp cổ đại. Những nguồn gốc này cũng vượt khỏi thế giới phương Tây tới Ấn Độ và Trung Quốc. Các thảo luận về “chính trị quyền lực” có nhiều trong Arthashastra, một tác phẩm Ấn  Độ về nghệ thuật quản lý nhà nước được Kautilya viết vào thế kỷ thứ IV TCN,  cũng như trong các nghiên cứu của Hàn Phi Tử và Thương Ưởng ở Trung Quốc cổ đại.

Chủ nghĩa hiện thực hiện đại nổi lên trong thời gian trước Thế chiến II khi niềm tin đang chiếm ưu thế về bản chất hài hòa lợi ích giữa các quốc gia bị công kích. Chỉ một thập kỷ trước đó, chính niềm tin này đã giúp nhiều quốc gia ký Hiệp ước Kellogg-Briand năm 1928 vốn không thừa nhận chiến tranh là một công cụ của chính sách quốc gia. Đến lúc đó, khi Đức Quốc xã, Phát xít Ý, và Đế quốc Nhật đều vi phạm Hiệp ước thì nhà ngoại giao và sử gia Anh E.H. Carr (1939) than phiền rằng giả định về mong muốn phổ quát đối với hòa bình đã cho phép quá nhiều người “lảng tránh một thực tế không dễ dàng về sự bất đồng lợi ích cơ bản giữa một bên là các quốc gia mong muốn duy trì hiện trạng và một bên là các quốc gia mong muốn thay đổi hiện trạng đó.

Với nỗ lực chống lại cái mà họ cho là một hướng tiếp cận không tưởng và thuần về pháp lý đối với chính sách đối ngoại, Reinhold Niebuhr (1947), Hans J. Morgenthau (1948), và những nhà hiện thực khác thể hiện rõ cái nhìn bi quan về bản chất con người. Giống với ý tưởng của nhà triết học thế kỷ XVII Baruch Spinoza, nhiều nhà hiện thực chỉ ra sự mâu thuẫn cố hữu giữa ham muốn và lý trí; hơn nữa, như trong truyền thuyết về Thánh Augustine, họ nhấn mạnh rằng sự khao khát vật chất khiến cho ham muốn áp đảo lý trí.Với họ, tình trạng của con người là một nơi mà thế lực của ánh sáng và bóng tối sẽ vĩnh viễn tranh giành nhau quyền kiểm soát.

Bức tranh hiện thực của chính trị quốc tế xuất hiện đặc biệt thuyết phục sau Thế chiến II. Sự bắt đầu ganh đua giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, sự mở rộng của Chiến tranh Lạnh thành một cuộc đấu tranh rộng lớn hơn giữa Đông và Tây, và các cuộc khủng hoảng định kỳ đe dọa làm nổ ra xung đột toàn cầu, tất cả đều ủng hộ sự nhấn mạnh của chủ nghĩa hiện thực về sự không thể tránh khỏi của xung đột, một viễn cảnh tối tăm cho sự hợp tác, và sự khác biệt về lợi ích quốc gia giữa các nhà nước ích kỷ chuyên tìm kiếm quyền lực.

Trong khi chủ nghĩa hiện thực cổ điển (classical realism) tìm lời giải thích cho các hành vi của quốc gia thông qua các nhân tố giải thích ở mức độ cá nhân thì chủ nghĩa hiện thực mới (neorealism) (đôi khi được gọi là chủ nghĩa hiện thực cấu trúc – structural realism) – một làn sóng tiếp theo của chủ nghĩa hiện thực – nhấn mạnh vào cấp độ hệ thống của phân tích. Kenneth Waltz (1979), người khởi xướng cho cái được gọi là chủ nghĩa hiện thực “phòng thủ”, cho rằng tình trạng vô chính phủ quốc tế, chứ không phải cái được cho là phần xấu trong bản chất con người, mới là điều giải thích tại sao các quốc gia lại bị mắc kẹt trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia khác. Sự thiếu vắng của một trọng tài trung tâm là đặc điểm cấu trúc cốt lõi của hệ thống quốc tế. Vì luôn cảm thấy dễ bị tổn thương và không an toàn nên các quốc gia hành động phòng thủ bằng cách tạo lập liên minh chống lại mối đe dọa đang dần hiện ra. Theo Waltz, cân bằng quyền lực được tự động tạo ra trong môi trường vô chính phủ. Thậm chí khi cân bằng này bị phá vỡ, chúng cũng sẽ sớm tự khôi phục lại.

Biến thể gần đây nhất của lý thuyết hiện thực cũng tập trung vào mức độ hệ thống của phân tích nhưng cho rằng mục đích quan trọng của các quốc gia là nhằm đạt được thế áp đảo về quân sự chứ không chỉ đơn giản là cân bằng quyền lực. Đối với John Mearsheimer (2001) và những người ủng hộ chủ nghĩa hiện thực “tấn công”, cấu trúc vô chính phủ của hệ thống quốc tế thúc đẩy các quốc gia tối đa hóa tỉ trọng của họ trong quyền lực thế giới nhằm nâng cao lợi thế sống sót trong cuộc đấu tranh nhằm giành giật lợi thế tương đối. Một quốc gia có lợi thế hơn so với các nước khác sẽ được bảo vệ chống lại khả năng bị đe dọa bởi một quốc gia hiếu chiến vào một ngày nào đó. Xin được trích một lời nói sáo như sau: “Tấn công chính là cách phòng thủ tốt nhất”.

5. Hạn chế của chủ nghĩa hiện thực

Dù cách nhìn nhận về bản chất thiết yếu của chính trị quốc tế theo chủ nghĩa hiện thực có thuyết phục như thế nào đi nữa thì các đề xuất chính sách của nó cũng thiếu sự chính xác trong cách sử dụng những thuật ngữ chủ chốt như quyền lực và lợi ích quốc gia. Do đó, một khi sự phân tích vượt qua nhận định rằng các nhà lãnh đạo quốc gia nên chiếm hữu quyền lực để phục vụ lợi ích quốc gia thì vẫn còn các câu hỏi quan trọng khác cần trả lời: Các thành tố chính của quyền lực quốc gia là gì? Cách sử dụng quyền lực nào phục vụ lợi ích quốc gia tốt nhất? Liệu vũ trang là sự bảo vệ hay sẽ gây ra những cuộc chạy đua vũ trang tốn kém? Liệu các liên minh sẽ tăng cường sự bảo vệ cho một quốc gia hay khuyến khích sự ra đời của các liên minh đối địch nguy hiểm? Theo quan điểm của các nhà phê bình của chủ nghĩa hiện thực, tìm kiếm an ninh bằng cách nâng cao quyền lực là một nỗ lực tự thất bại. Sự tìm kiếm một nền an ninh tuyệt đối của một quốc gia sẽ được xem như một sự mất an ninh tuyệt đối của các thành viên khác trong hệ thống, và từ đó dẫn đến kết quả là tất cả các nước đều bị mắc kẹt trong vòng xoáy trôn ốc đi lên của các biện pháp đối phó và sẽ phá hủy toàn bộ nền an ninh của các nước (Vasquez 1998;1993).

Do nhiều điểm trong lý thuyết hiện thực vẫn còn mơ hồ nên mọi người bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi. Chủ nghĩa hiện thực không đưa ra tiêu chuẩn nào để xác định các dữ liệu lịch sử nào là quan trọng để đánh giá các tuyên bố của mình và các quy tắc nhận thức luận nào để mọi người tuân theo khi giải thích các thông tin liên quan (Vasquez và Elaman 2003).  Thậm chí các kiến nghị chính sách được cho là theo logic của chủ nghĩa hiện thực cũng thường khác nhau. Ví dụ như các nhà hiện thực cũng bị chia rẽ về việc liệu cuộc can thiệp của Mỹ ở Việt Nam phục vụ cho lợi ích quốc gia của Mỹ hay không, và việc liệu vũ khí hạt nhân có góp phần vào an ninh quốc tế hay không? Cũng tương tự như vậy, trong khi nhiều nhà quan sát sử dụng chủ nghĩa hiện thực để giải thích cuộc xâm lược của Mỹ vào Iraq năm 2003 (Gvosdev 2005) thì một số khác dùng các lập luận hiện thực để lên án cuộc xâm lược đó (Mansfield và Snyder 2005; Mearsheimer và Walt 2003).

Ngày càng có nhiều nhà phê bình chỉ ra rằng chủ nghĩa hiện thực không giải thích được những phát triển quan trọng của chính trị thế giới. Ví dụ như chủ nghĩa hiện thực đã không thể giải thích được việc xuất hiện các thể chế chính trị và thương mại mới ở Tây Âu trong những năm 1950 và 1960, nơi việc theo đuổi sự hợp tác cùng có lợi đã đưa Châu Âu ra khỏi các cuộc chiến tranh chính trị quyền lực liên miên và không kiểm soát được kể từ khi các quốc gia-dân tộc xuất hiện 3 thế kỷ trước đó. Những nhà phê bình khác bắt đầu lo lắng về khuynh hướng coi thường các nguyên tắc đạo đức của chủ nghĩa hiện thực, cũng như các chi phí vật chất và xã hội mà kiến nghị chính sách của chủ nghĩa này áp đặt như sự phát triển kinh tế chậm chạp do các chi phí quân sự không kiểm soát được.

Dù chủ nghĩa hiện thực vẫn còn nhiều hạn chế nhưng nhiều người vẫn tiếp tục phân tích chính trị thế giới dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực, đặc biệt trong giai đoạn căng thẳng quốc tế. Một ví dụ gần đây được tìm thấy trong phát biểu của cựu cố vấn Anh Quốc Michael Gerson (2006, 59-60) về việc Hoa Kỳ nên đối phó với tham vọng hạt nhân của Iran như thế nào. Tranh luận dựa trên giả định hiện thực là “hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên”, ông đã kêu gọi Mỹ có phản ứng mạnh mẽ dựa trên trọng tâm chắc chắn rằng lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ là ngăn chặn sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Trung Đông. “Chắc chắn phải có một ai đó trên thế giới này có khả năng vẽ ra một giới hạn. Một người nào đó có thể nói rằng “Đến đây thôi và không được xa hơn nữa”. Ông kết luận rằng hòa bình không thể đạt được bởi “một chính sách đối ngoại nhút nhát cho phép các mối đe dọa khủng khiếp xuất hiện”. Trừ khi những kẻ đe dọa người khác phải trả giá, không thì “xâm lược sẽ trở nên phổ quát”.