- 1. Cấu trúc Bộ luật hình sự năm 2015
- a. Phần thứ nhất “Những quy định chung”
- b. Phần thứ hai “Các tội phạm”
- c. Phần thứ ba “Điều khoản thi hành”.
- 2. Khái quát chế định quyết định hình phạt
- 3. Cấu trúc chế định quyết định hình phạt và hình phạt tiền theo pháp luật hình sự 2015
- a. Cấu trúc chế định quyết định hình phạt
- b. Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự 2015
- 3. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- 4. Chế định về "quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định" của Bộ luật hình sự năm 2015
- 5. Sự thay đổi về hình phạt tù chung thân và tử hình
Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Bộ luật hình sự năm 2015 có cấu trúc như thế nào? Chế định quyết định hình phạt trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015 có những đặc điểm gì cần chú ý?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Cấu trúc Bộ luật hình sự năm 2015
Việc phân tích nội hàm (tức các đặc điểm cơ bản) của hệ thống và cơ cấu Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, khác với hai lần pháp điển hóa thứ nhất và thứ hai với hai Bộ luật Hình sự (năm 1985 và năm 1999) (02 Bộ luật này có Lời nói đầu), song Bộ luật Hình sự năm 2015 mặc dù không có Lời nói đầu nhưng lại có ba phần lớn và được đặt tên gọi lần lượt theo số thứ tự của từng phần (thứ nhất, thứ hai, thứ ba). Sau đó, ba phần lớn này lại được phân chia ra thành 26 chương với tổng số 426 điều. Cơ cấu của ba phần này như sau:
a. Phần thứ nhất “Những quy định chung”
Với phần này có cơ cấu gồm 12 chương (I-XII) với 107 điều (các điều 1-107 Bộ luật Hình sự năm 2015), trong số này có 10 chương vẫn được giữ nguyên tên gọi như trong Bộ luật Hình sự (năm 1999), còn hai chương mới bổ sung là: Chương IV “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” gồm có 07 điều (các điều 20-26), trong này có 04 điều cũ đã được chuyển từ Chương III “Tội phạm” trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) sang (các điều 20-23) và bổ sung thêm ba điều mới hoàn toàn (các điều 24-26); và Chương XI mới hoàn toàn “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” với 16 điều (các điều 74-89 Bộ luật Hình sự năm 2015).
b. Phần thứ hai “Các tội phạm”
Phần này tức đó là Phần riêng, phần này có cơ cấu gồm 14 chương (từ XIII đến XXVI) với 318 điều (các điều 108- 425 Bộ luật Hình sự năm 2015) mà hệ thống các chương đề cập các nhóm tội phạm tương ứng cụ thể sẽ được đề cập trong Phần XI Chương III này.
Vì tại thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 được thông qua (27/11/2015) thì vẫn có Điều 292 “Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông” nhưng sau khi bị lùi thời hạn thi hành trong gần hai năm (2016-2017) để rà soát lại và sửa đổi, bổ sung thì Điều luật này đã bị bãi bỏ, đồng thời được thay thế bằng Điều 217a “Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp” và chính vì vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên tổng số tất cả là 426 điều như ban đầu.
c. Phần thứ ba “Điều khoản thi hành”.
Đây là phần mà lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam đã bổ sung thêm một cơ cấu hoàn toàn mới so với các bộ luật lớn (vì từ trước đến nay chỉ có trong văn bản pháp luật nhỏ như các luật hay pháp lệnh mới có điều khoản cuối cùng và do vậy mà ở đây không có chương mà chỉ quy định trong Điều 426 Bộ luật Hình sự năm 2015.
=> Như vậy, trong tổng số 12 chương thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 (từ chương I đến chương XII) nhà làm luật đã bổ sung thêm hai chương mới hoàn toàn và độc lập, đó là:
- Chương IV “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” với 07 điều (các điều 20 đến điều 26 Bộ luật Hình sự năm 2015) trên cơ sở tách những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (mà chính xác hơn phải là loại trừ tính tội phạm của hành vi) hay nói một cách khác, tách những tình tiết không có liên quan gì đến tội phạm ra khỏi chương về tội phạm - Chương III “Tội phạm” trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) và;
- Chương XI mới hoàn toàn “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” với 16 điều, đó là các điều 74 đến điều 89 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Đối với các quy phạm trong hai chương đó là chương VIII và chương XII đã gộp lại và sắp xếp tương ứng theo các mục mà trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) và Bộ luật Hình sự (năm 1999) không làm như vậy, cụ thể như sau:
- Chương VIII “Quyết định hình phạt” có 10 điều, đó là các điều 50 đến điều 59) với hai mục là: Mục 1 “Quy định chung về quyết định hình phạt”, các điều 50 đến điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015); Mục 2 “Quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể” tại các điều 54 đến điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015).
- Tên gọi của Chương XII đã có nhiều sự thay đổi, tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp nên cụ thể sẽ được phân tích riêng, độc lập khi đề cập trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.
2. Khái quát chế định quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau) trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự.
Các quy phạm của chế định quyết định hình phạt được ghi nhận tại Chương VIII “Quyết định hình phạt” với 10 điều, từ điều 50 đến điều 59) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mà việc phân tích các quy phạm này cho thấy một số điểm mới mà lần đầu tiên được nhà làm luật điều chỉnh trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án khi quyết định hình phạt. Điều kiện thuận lợi cho Tòa án quyết định hình phạt trong những trường hợp ta sẽ cùng tìm hiểu dưới đây.
3. Cấu trúc chế định quyết định hình phạt và hình phạt tiền theo pháp luật hình sự 2015
a. Cấu trúc chế định quyết định hình phạt
Đối với chế định quyết định hình phạt của Chương VIII Bộ luật Hình sự năm 2015 có điểm khác vối Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1999) là được phân chia thành hai mục với tổng cộng tất cả là 10 điều, đó là điều 50 đến điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015, Mục 1 “Quy định chung về quyết định hình phạt” có 04 điều, từ điều 50 đến điều 53 và Mục 2 “Quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể” có 06 điểu, từ điều 54 đến điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015.
b. Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự 2015
Ở đây, nhà làm luật đã bổ sung thêm nội dung khi áp dụng hình phạt tiền là bên cạnh các căn cứ quyết định hình phạt được liệt kê tại khoản 2 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 như trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) Tòa án còn “căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội” (khoản 2).
3. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Đối với chế định về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì theo Bộ luật Hình sự năm 2015 được quy định như sau:
a. Tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong số 22 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được liệt kê như trong Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1999) đã bổ sung thêm ba tình tiết giảm nhẹ mới tại các điểm e, p và x mà các tình tiết giảm nhẹ này từ lâu đã được các Tòa án tự cân nhắc và áp dụng trong thực tiễn xét xử ngay từ thòi kỳ Bộ luật Hình sự (năm 1985) có hiệu lực thi hành vì các tình tiết giảm nhẹ này góp phần thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự xã hội chủ nghĩa.
b. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa ba phạm trù còn chung chung, trừu tượng và chưa rõ nghĩa như người “già”, “trẻ em” và người “chưa thành niên” đã sử dụng trong Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1999) tương ứng thành người “70 tuổi trở lên”, người “dưới 16 tuổi” và người “dưới 18 tuổi” (điểm 0 khoản 1 Điều 51 và các điểm i, o khoản 1 Điều 52 bộ luật).
c. Tại điểm 1 khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã rút gọn cách diễn đạt tình tiết giảm nhẹ “có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”, với điểm n khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1999) là dài hơn nhưng chưa rõ ràng) thành “bị bệnh hạn chế... mà không phải do lỗi của mình gây ra”.
4. Chế định về "quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định" của Bộ luật hình sự năm 2015
Các quy phạm của chế định về quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 có hai điểm mới, cụ thể chúng được thể hiện dưới đây.
Thứ nhất, thay đổi cụm từ “nhẹ hơn quy định của Bộ luật”. Cần lưu ý rằng, tuy chưa được pháp điển hóa trong Bộ luật Hình sự (năm 1985), nhưng ba tình tiết giảm nhẹ nêu trên đã được luận chứng trong Báo cáo tại Hội nghị khoa học - thực tiễn “Về thực tiễn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985" điều đó đã được tiến hành chỉ sau 02 năm thi hành Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) do Vụ Nghiên cứu pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao lúc bấy giờ tổ chức với sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tôi cao, Viện Nhà nước và pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia thời điểm đó (Hà Nội, các ngày 30-31/12/1987); và sau đó, 03 tình tiết giảm nhẹ nêu trên cũng đã được khẳng định trong những hướng dẫn thống nhất có tính chất chỉ đạo tại Phần II Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuy nhiên, đến Bộ luật Hình sự (năm 1999) vẫn chưa ghi nhận chúng mà đến tận Bộ luật Hình sự năm 2015 mới được ghi nhận trong tên gọi theo Điều 47 Bộ luật Hình sự (năm 1999) bằng cụm từ “dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng” trong tên gọi của Điều này và;
Thứ hai, đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án có đồng phạm có thể được hưởng chế định nhân đạo này, thậm chí “không bắt buộc phải trong khung liền kề nhẹ hơn của điều luật” (khoản 2).
5. Sự thay đổi về hình phạt tù chung thân và tử hình
Với mục tiêu thể hiện xu hướng nhân đạo hóa hơn nữa pháp luật hình sự Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nên khi quy định việc quyết định hình phạt nhà làm luật đã thay đổi các hình phạt nặng nhất có tính chất tùy nghi “chỉ có thể áp dụng các hình phạt này” (tức tù chung thân hoặc tử hình) như quy định tại khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự (năm 1999) bằng hình phạt mới nhẹ hơn có tính chất bắt buộc “thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm” quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trân trọng!