1. Khái quát về chế định các biện pháp cưỡng chế hình sự, chế định hình phạt của biện pháp cưỡng chế hình sự

Lần đầu tiên bằng các quy phạm riêng biệt của Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1985 chế định lớn này đã được nhà làm luật điều chỉnh tại hai chương độc lập tương ứng với hai chế định nhỏ thuộc nó, đó là Chương IV “Hình phạt” và Chương V “Các biện pháp tư pháp”, dưới đây sẽ lần lượt xem xét từng chế định nhỏ này.

- Về chế định hình phạt. Lần đầu tiên các quy phạm riêng biệt về hình phạt đã được ghi nhận tại một Chương IV - độc lập của Bộ luật Hình sự (năm 1985) với 13 điều luật (Điều 20 - Điểu 32), mà việc phân tích các quy phạm của chế định nhỏ này đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện qua bốn thuộc tính chung với bốn đặc điểm cơ bản dưới đây:

a. Nhược điểm lớn nhất của chế định đang phân tích là nhà làm luật vẫn chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm hình phạt là gì.

b. Về mục đích của hình phạt. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam bằng một quy phạm riêng biệt (không có sự phân chia theo các khoản) tại Điều 20 Bộ luật Hình sự (năm 1985) nhà làm luật đã khẳng định các mục đích ngăn ngừa riêng và ngăn ngừa chung của hình phạt, mà theo đó:

- Mục đích ngăn ngừa riêng, đó là“Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mớĩ’.

- Mục đích ngăn ngừa chung, đó là“Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chông và phòng ngừa tội phạm”.

c. Về hệ thống hình phạt. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam bằng hai quy phạm thuộc Phần chung tương ứng tại Điều 21 Bộ luật Hình sự (năm 1985) nhà làm luật đã ghi nhận hệ thống hình phạt với danh mục gồm 07 hình phạt chính (khoản 1) và 07 hình phạt bổ sung (khoản 2) như sau:

- Tại khoản 1 Điều 21 nhà làm luật đã liệt kê tên gọi của 07 hình phạt chính (theo thứ tự từ nhẹ nhất đến nặng nhất) là: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cải tạo ồ đơn vị, kỷ luật của quân đội; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình.

- Tại khoản 2 Điều 21 nhà làm luật đã liệt kê tên gọi của 06 hình phạt bổ sung (mà kèm theo hình phạt chính có thể được áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung) là: cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tước danh hiệu quân nhân; tịch thu tài sản và; phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính).

d. Ngoài hai điều luật (Điều 20 - Điều 21) đã nêu, để tạo điều kiện thuận tiện cho các Tòa án trong việc áp dụng các loại hình phạt khác nhau thì tại 11 điều luật tiếp theo (Điều 22 - Điều 32) của Bộ luật Hình sự (năm 1985) nhà làm luật đã lần lượt ghi nhận bản chất pháp lý và điều kiện áp dụng của tất cả 13 loại hình phạt (07 loại hình phạt chính và 07 loại hình phạt bổ sung) đã được ghi nhận tại Điều 21, mà cụ thể là: cảnh cáo (Điều 22); Phạt tiền (Điều 23); Cải tạo không giam giữ (Điều 24); Tù có thời hạn (Điều 25); Tù chung thân (Điều 26); Tử hình (Điều 27); Cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định (Điều 28); Cấm cư trú (Điều 29); Quản chế (Điều 30); Tước một số quyền công dân (Điều 31); Tịch thu tài sản (Điều 32).

 

2. Chế định biện pháp tư pháp trong biện pháp cưỡng chế hình sự

Về các biện pháp tư pháp. Lần đầu tiên các quy phạm riêng biệt về các biện pháp tư pháp đã được ghi nhận tại một chương độc lập của Bộ luật Hình sự năm 1985, Chương V với 04 điều luật (Điều 33 - Điều 36), mà việc phân tích các quy phạm của chế định nhỏ này đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện qua hai thuộc tính chung vối hai đặc điểm cơ bản dưới đây:

a. Nhược điểm của chế định nhỏ đang được phân tích là nhà làm luật vẫn chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm biện pháp tư pháp là gì (?) và còn thiếu từ “hình sự” ở sau thuật ngữ “biện pháp tư pháp”.

b. Mặc dù vậy, bằng các quy phạm tại 04 điều của Chương V Bộ luật Hình sự (năm 1985), để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hình sự nhà làm luật đã ghi nhận trình tự và điểu kiện áp dụng 04 biện pháp tư pháp tương ứng như sau: Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 33); Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 34); Bắt buộc chữa bệnh (Điều 35) và; Thời gian bắt buộc chữa bệnh (Điều 36).

 

3. Khái quát về chế định quyết định hình phạt của Bộ luật hình sự (năm 1985)

Lần đầu tiên trong lịch sử 40 năm pháp luật hình sự Việt Nam chế định lớn này đã được điều chỉnh bằng các quy phạm riêng biệt trong Chương VI độc lập “Việc quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt” thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985) với 20 điều luật (Điểu 37 - Điều 56).

Nhưng thực chất nếu xét về tên gọi của Chương VI và bản chất pháp lý của các quy phạm trong Chương này với số lượng nhiều đến 20 điều luật cho thấy, nó bao gồm cùng một lúc hai chế định lớn thuộc Phần chung pháp luật hình sự - chế định quyết định hình phạt với 07 điều luật (Điều 37 - Điều 43) và chế định các biện pháp tha miễn với 13 điều luật (các điều 44-56).

Chính vì vậy, để bảo đảm tính chính xác về mặt khoa học nên ở đây sẽ phân tích và tách ra phân tích chế định lớn về quyết định hình phạt với 07 điều luật (Điều 37 - Điều 43) theo đúng như tên gọi của quyết định hình phạt này.

Như vậy, việc phân tích các quy phạm của chế định lớn về quyết định hình phạt đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện qua những thuộc tính chung với các đặc điểm cơ bản của nó mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở dưới đây.

 

4. Căn cứ quyết định hình phạt và tình tiết giảm nhẹ hình phạt

a. Các căn cứ quyết định hình phạt

Trước hết, tại Điều 37 Bộ luật Hình sự (năm 1985) về “Nguyên tắc quyết định hình phạt” (mà chính xác hơn phải gọi là các căn cứ quyết định hình phạt) lần đầu tiên bằng một quy phạm thuộc Phần chung pháp luật hình sự thực định nhà làm luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho các Tòa án với sự ghi nhận 04 căn cứ quyết định hình phạt là: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào các quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự”.

b. Các quy phạm về những tình tiết giảm nhẹ

Đối với chế định này, tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự (năm 1985) - “Những tình tiết giảm nhẹ” nhà làm luật đã quy định 08 tình tiết “được coi là tình tiết giảm nhẹ” mà trong đó hầu hết là những tình tiết giảm nhẹ lần đầu tiên được ghi nhận, chỉ trừ một vài tình tiết giảm nhẹ tại ba điểm: điểm a (đã ngăn chặn tác hại của tội phạm hoặc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại); điểm d (gây thiệt hại không lớn) và điểm h (tự thú, thật thà khai báo).

Tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Hình sự (năm 1985), để tạo điều kiện thuận lợi cho các Tòa án nhà làm luật đã dành sự tùy nghi cho cơ quan xét xử nhưng cũng đã kết hợp với nguyên tắc pháp chế của pháp luật hình sự để tránh xu hưống tùy tiện nên cũng đã ghi nhận yêu cầu mang tính bắt buộc đốì vối các Tòa án là: “Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi trong bản án”.

Các quy phạm về quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định. Tại khoản 3 Điểu 38 Bộ luật Hình sự năm 1985 lần đầu tiên với tư cách là 01 chế định nhân đạo đã ghi nhận quy phạm với nội dung là: “Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án”.

 

5. Chế định quy phạm về những tình tiết tăng nặng của quyết định hình phạt

Các quy phạm về những tình tiết tăng nặng theo Điều 39 Bộ luật Hình sự (năm 1985) “Những tình tiết tăng nặng” quy định 09 tình tiết “được coi là tình tiết tăng nặng” mà trong đó vừa kết hợp sự thừa kế những tình tiết thuộc những trường hợp cần xử nặng của pháp luật hình sự thời kỳ chưa pháp điển hóa trước đây tại 04 điểm: Điểm a (phạm tội có tổ chức); điểm b (lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;); điểm d (dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác ); điểm g (phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng) và h (tái phạm) vừa ghi nhận tình tiết tăng nặng lần đầu tiên tại 04 điểm còn lại là điểm c, đ, e và i.

Bên cạnh đó, để tránh xu hướng tùy tiện kết hợp với sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự tại khoản 2 Điều 39 Bộ luật Hình sự (năm 1985), nhà làm luật cũng đã ghi nhận yêu cầu mang tính bắt buộc đối vối các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, đó là: “Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Ngoài các chế định nhỏ có liên quan đã được xem xét trên đây, để tạo điều kiện thuận lợi cho các Tòa án trong việc quyết định hình phạt, nhà làm luật Việt Nam còn ghi nhận thêm về mặt lập pháp một loạt các quy phạm khác với tư cách là các chế định nhỏ thuộc chế định lớn về quyết định hình phạt trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) như: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 40); Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41); Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42) và; Tổng hợp hình phạt khác loại (Điều 43).

Trân trọng!