1. Khái quát chung về chế độ hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Theo ý nghĩa thông thường, hôn nhân được hiểu là sự đồng ý của cả hai người nam và nữ về việc họ về ở chung với nhau, cùng nhau sống chung 1 mái nhà dựa trên trên nền tảng tình yêu nhằm mưu cầu hạnh phúc cho bản thân mình, Tuy nhiên, dưới thời kì phong kiến hôn nhân được hiểu là sự tương hợp, giao hợp giữa hai dòng họ nhằm mục đích trên là để thờ phụng tổ tiên (trong quá khứ) và dưới là để kế truyền dòng họ ( trong tương lai). Như vậy, thông qua mục đích của việc hôn nhân, ta đã hiểu được phần nào tính không tự do, bất bình đẳng thể hiện trong chế độ hôn nhân trong chế độ phong kiến. Chế độ hôn nhân trong thời kì phong kiến là sự thể chế hóa chế độ hôn nhân theo lễ nghi nho giáo ( là kinh thứ 3 trong 5 kinh của lễ nghi Nho giáo).

 

2. Chế độ hôn nhân không tự do trong pháp luật phong kiến Việt Nam

2.1 Chế độ hôn nhân không tự do thể hiện ở sự kết lập hôn nhân

Về điều kiện kết hôn:

Theo tinh thần và nội dung của nhiều điều khoản trong hai bộ luật này, việc kết hôn phải tuân theo các nguyên tắc sau:

- Việc kết hôn phải có sự đồng ý của cha, mẹ. Đây là một nội dung quan trọng thê hiện nguyên tặc hôn nhân không tự do trong cổ luật Việt Nam. Cả hai bộ luật đều quy định rất chặt chẽ về nội dung này. Tại điều 314 bộ luật Hồng Đức quy định:

“Người kết hôn mà không đủ sính lễ đến nhà cha mẹ người con gái ( nếu cha mẹ chết thì đem đến người nhà trưởng họ hay nhà người trưởng làng) để xin, mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm một tư và theo lệ sang hèn phải bắt nộp tiền tạ( tạ: là xin lỗi ), cho cha mẹ nếu cha mẹ chết thì nộp cho trưởng họ hay trưởng làng, người con gái phải chịu phạt 50 roi”.

Theo tinh thần của điều luật này thì việc kết hôn nhất thiết phải có sự đồng ý của hai bên cha mẹ nếu cha mẹ đã chết thì phải được sự đồng ý của bậc thân thuộc hoặc  trưởng thôn. Có thể coi đây là điều kiện cơ bản nhất, loại trừ hẳn quyền kết hôn tự do của hai đương sự. Điều kiện này xuất phát từ quan điểm phong kiến cho rằng hôn nhân là một loại quan hệ phải xuất phát từ quyền lợi của gia đình, dòng họ nhằm giao hiếu giữa hai dòng họ và kế truyền dòng dòng dống tông tộc.do đó việc hôn nhân phải được đặt dươi sự xem xét và quyết định của người gia trưởng loại trừ sự tự do cá nhân của hai bên đương sự. Tuy vậy tại điều 94 bộ luật Gia Long quy định trường hợp ngoại lệ pháp luật thừa nhận trường hợp thành hôn mà chưa có ý kiến của  ông bà, cha mẹ khi làm ăn buôn bán hoặc làm ăn ở xa. Quy định này phù hợp với điều kiện lãnh thổ rộng lớn đi lại khó khăn.

Ngoài ra, Cổ luật Việt Nam còn nghiêm cấm việc kết hôn khi : Đang có tang cha, mẹ hoặc tang chồng. Có điều này là xuất phát từ việc đảm bảo đạo đức phong kiến, tại điều 317 bộ luật Hồng Đức quy định:

“Người nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ thì bị xử tội đồ ,người khác biết mà vẫn kết hôn thì xử biếm ba tư và đôi vợ chồng mới cưới phải chia lìa”.

Điều kiện này nhằm đề cao đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ, chữ “tiết” của vợ đối với chồng; Cấm kết hôn khi ông bà cha mẹ đang bị giam cầm tù tội. Điều 318 bộ luật Hồng Đức viết:

“Trong khi ông bà cha mẹ đang bị xử tù tội mà lấy vợ lấy chồng thì đều xử biếm ba tư và đôi vợ chồng phải li dị .Nếu ông bà cha mẹ cho phép thì chỉ được làm lễ thành hôn mà không được bày ra cỗ bàn ăn uống ,trái luật thì xử biếm một tư ”

Điều kiện này cũng nhằm đề cao chữ hiếu của con cháu đối với ông bà cha mẹ; Cổ luật Việt Nam cũng quy định rất rõ cấm kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thuộc, bao quát rộng ngoài 5 bậc tang (Điều 100-102 trong bộ luật Gia Long); “Cấm anh lấy vợ goá của em, em lấy vợ goá của anh, trò lấy vợ goá của thầy” (Điều 324 – bộ luật Hồng Đức), “ là anh, là em, là học trò lấy vợ của em, của anh, của thầy đã chết đều xử lưu, người đàn bà bị xử giảm một bậc, đều phải ly dị”. Điều này nhằm bảo vệ đạo anh em, nghĩa thầy trò;Cấm nô tì lấy dân tự do: luật quy định rằng “ Phàm gia trưởng cưới vợ cho nô bộc là con gái nhà lành thì phạt 80 trượng, người nô bộc tự cưới thì cũng thế. Mạo lão nô tì là lương nhân để cùng lương nhân làm chồng phạt 100 trượng” (điều 107 bộ luật Gia Long). Quy định này thể hiện rõ quan điểm phân biệt đẳng cấp ngăn câm nô tì có quan hệ hôn nhân với thường nhần thể hiện sự phân tần xã hội nghiêm ngặt; Cấm sư nam đạo sĩ kết hôn: Tăng, đạo cứơi thê thiếp phạt 80 trượng, buộc phải hồi tục, chủ hôn nhà gái đồng tội, bắt ly dị; Đàn bà con gái có tội đang trốn tránh thì không được kết hôn; Cấm mệnh phụ phu nhân cải giá: Mệnh phụ phu nhân( vợ quan chức ) mà chồng chết tuy mãn tang mà tái giá phạt 80 trượng, truy thu bằng sắc vua khen trước đây, bắt phải ly dị, tiền cưới cho vào quan; Cấm quan lại lấy con gái ở địa phương mà mình đương chức, cấm con của trấn giữ biên ải kết hôn với con của tù trưởng địa phương, cấm các quan lại, con chaú các quan kết hôn với đàn bà con gái làm nghề hát xướng, đã kết hôn thì đều phải ly dị (những quy định này được nghi nhận tại các điều 316, 334, 323 của bộ luật Hồng Đức).

Những điều kiện được kết hôn và cấm kết hôn như đã phân tích ở trên đã thể hiên chế độ hôn nhân không tự do trong pháp luật phong kiến Việt Nam.

 

2.2 Thủ tục kết hôn có những trình tự thủ tục chặt chẽ:

Thủ tục kết hôn thời kỳ này thường có 2 giai đoạn:

Thứ nhất là đính hôn (hứa hôn): luật quy định sau lễ đính hôn phải có “hôn thư” hoặc đã trao nhận đồ sính lễ giữa nhà trai và nhà gái thì cuộc hôn nhân mới có giá trị pháp lý, nhưng chưa có giá trị thực tế. Trong thời gian đính hôn, nếu người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá sản, hoặc người con gái bị ác tật hay phạm tội, thì bên kia mới được từ hôn. Theo điều 94 bộ luật Gia Long “hứa gả có văn bản mà đổi ý phạt chủ hôn 50 roi, nhà gái đã nhận đồ sính lễ mà thay đổi cũng xử như vậy”.

Thứ hai là thành hôn (lễ cưới): chỉ khi thành hôn, cuộc hôn nhân mới có giá trị thực tế; các bộ luật thường không quy định nghi thức lễ cưới mà cho phép căn cứ vào lễ nghi truyền thống, phong tục tập quán. Luật Gia Long chỉ quy định thời hạn tối đa giữa lễ đính hôn và lễ cưới là 5 năm; người con gái không có lỗi mà nhà trai không chịu cưới, quá hạn cho phép trình quan cho đi cải giá, nhà trai không được đòi tiền sính lễ.

Rõ ràng, với quy định việc kết hôn phải qua đính hôn và đặt ra các chế định hình phạt như vậy đã cho thấy nét tỉ mỉ, chặt chẽ trong chế độ hôn nhân thời đại này, buộc cả hai bên đương sự phải tuân theo.

 

2.3. Chế độ hôn nhân không tự do thể hiện ở quan hệ vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân .

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau. Theo tinh thần của điều luật này, người vợ phải có nghĩa vụ về ở với nhà chồng tại địa điểm do cha mẹ chồng và người chồng lựa chon. Người vợ không vì bất cứ lý do gì để tự tiện bỏ nhà chồng ra đi và nếu hành động đó xảy ra, sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.

Nghĩa vụ phục tùng chồng: Theo tinh thần nhiều điều luật đã thể hiện nghĩa vụ của người vợ phải theo chồng,vâng lời chồng và tôn trọng mọi quyết định của chồng. Những hành vi bất phục tùng chồng nghiêm trọng như đánh chồng, tố cáo chồng bị trừng phạt rất nặng.

Nghĩa vụ chung thuỷ: Người vợ phải có nghĩa vụ tuyệt đối chung thuỷ với chồng nếu vi phạm nguyên tắc này thì không những bị coi là một trong bảy duyên cớ để người chồng buộc phải ly hôn mà còn phải chịu hình phạt nghiêm khắc. Đây cũng là những nguyên tắc thể hiện hôn nhân không tự do trong cổ luật Việt Nam.

- Nghĩa vụ để tang: khi chồng chết người vợ phải có nghĩa vụ để tang chồng trong ba năm và phai tuân thủ những quy định nghiêm ngặt nếu người vợ vi phạm nghĩa vụ này sẽ bị khép vào tội thập ác. Điều này thể hiện nguyên tắc không tự do hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Quy định này thể hiện quan hệ hôn nhân đối với người phụ nữ chưa chấm dứt ngay khi chồng chết, mà sau khi chồng chết người phụ nữ còn phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà chồng. Điều này đã làm mất quyền tự do của người phụ nữ trong việc xây dựng hạnh phúc mới.

 

Chấm dứt hôn nhân thể hiện nguyên tắc không tự do

Tại bộ luật Hồng Đức quy định việc hôn nhân chấm dứt khi xảy ra một trong hai trường hợp: do một bên vợ hoặc chồng chết trước, do ly hôn.

Theo tinh thần và nội dung của Điều 2 và Điều 320 Bộ luật Hồng Đức thì nếu người chồng chết trước, quan hệ nhân thân chưa chấm dứt ngay mà vẫn tồn tại trong thời gian vợ phải để tang chồng. Trong thời gian đó, người vợ chưa được đi lấy chồng khác, vẫn phải ở nhà chồng để tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đối với gia đình chồng. Ngược lại, nếu người vợ chết trước, pháp luật không có quy định người chồng phải để tang và quan hệ nhân thân chấm dứt ngay.

Trường hợp phải ly hôn cho dù người vợ hoặc chồng có muốn hay không điều này cũng nói lên nguyên tắc hôn nhân không tự do đựơc quy định trong cổ luật Việt Nam. Thứ nhất pháp luật buộc phải ly hôn vì hôn nhân đã vi phạm những điều cấm kết hôn (những điều cấm đã trình bày ở phần I). Thứ hai nhóm trường hợp buộc người chồng phải ly hôn vì người vợ có lỗi, ở điều 310 của bộ luật Hồng Đức quy định “ vợ cả, vợ lẽ phạm phải điều nghĩa tuyệt (như thất xuất ) mà người chồng chịu giấu thì bị xử tội biếm, tuỳ theo việc nặng nhẹ”. Theo tinh thần của điều luật này, người chồng buộc phải bỏ vợ cho dù vợ, chồng có muốn hay không.

Tại bộ luật Gia Long cũng nêu rõ: việc ly hôn phải trình lên quan ti, tuyệt đối không được tự tiện; hai bên có thể làm “tư ước” hoặc “văn thư” làm bằng.

Như vậy ta thấy những quy định trong cổ luật như đã nêu trên thì việc chấm dứt hôn nhân cũng thể hiện nguyên tắc không tự do trong hôn nhân. Việc chấm dứt hôn nhân này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của hai bên đương sự mà phụ thuộc vào những quy định của pháp luật.

 

3. Chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong pháp luật phong kiến Việt Nam.

Những quy định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trong pháp luật thời Lý,Trần còn rất ít ỏi nhưng cũng đủ để thể hiện rất rõ sự bất bình đẳng trong hôn nhân. Chế độ hôn nhân bất bình đẳng được thể hiện qua chế định kết hôn, quan hệ vợ chồng, quan hệ vợ cả với vợ lẽ trong đó chưa đựng cả quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.

Như biểu hiện chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong pháp luật Việt Nam trong thời gian này là cấm nô tỳ lấy dân tự do ( Điều 107- Bộ Luật Gia Long). Điều này thể hiện rõ sự phân biết đẳng cấp. Hay điều 98 thì được hiều là vợ quan chức không được tái giá khi chồng chết mặc dù đã mãn tang, nếu như tái giá thì sẽ bị phạt 80 trượng, truy thu bằng sắc vua ban khen trước đây và bắt phải ly dị. Tuy nhiên, điều này lại không quy định đối với người chồng.

Sự bất bình dẳng thể hiện trong chế định ly hôn, người vợ chỉ cần phạm 1 trong bẩy điều Thát xuất thì người chồng buộc phải ly hôn với người vợ.

 

4. Chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong quan hệ giữa vợ và chồng

Thứ nhất, chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong pháp luật Việt Nam được thể hiện qua quyền và nghĩa vụ của chồng và vợ. Người chồng có rất nhiều quyền đối với người vợ đó là quyền gia trưởng, nhưng ngược lại thì người vợ lại có rất nhiều nghĩa vụ đối với người chồng.

Chẳng hạn như, đối với người chồng thì người vợ có 4 nghĩa vụ là: nghĩa vụ Đồng cư, nghĩa vụ Tòng phu, nghĩa vụ để tang chồng và nghĩa vụ chung thủy với chồng. Nhưng đối với người vợ thì người chồng lại chỉ có hai nghĩa vụ là nghĩa vụ Đồng cư và nghĩa vụ chung thủy.

Hay theo Điều 2 và Điều 320  Bộ Luật Hồng Đức thì nếu người chồng chết trước thì quan hệ nhân thân chưa chấm dứt ngay mà vẫn tồn tại trong thời gian người vợ để tang chồng và trong thời gian đó người vợ không được đi lấy chồng khác mà phải ở bên nhà chồng để thực hiện các nghĩa vụ đới với gia đình chồng. Nhưng ngược lại nếu người vợ chết, pháp luật không quy định người chồng phải để tang và quan hệ nhân thân chấm dứt ngay sau khi người vợ chết.

Nghĩa vụ thủy chung được chủ yếu được quy định đối với người vợ. Theo Điều 332 Bộ Luật Gia Long thì người chồng có quyền gả bán vợ nếu như vợ mắc tội thông gian. Tuy nhiên người chồng có thể bán người vợ cho bất kì ai trừ người thông gian với vợ mình.

Ngoài ra, chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong pháp luật phong kiến Việt Nam còn thể hiện ở chế độ hôn nhân đa thê. Sự bất bình đẳng giữa người vợ và người chồng thể hiện rẩt rõ nét với quan niệm: “ trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”. Trong chế độ phong kiến, chế độ đa thê  được mặc nhiên thừa nhận, vì vậy mà nghĩa vụ chung thủy được đặt ra trước hết và chủ yếu do người vợ.

Thứ hai, khi người vợ và người chồng phạm cùng một tội thì hình phạt áp dụng đối với người vợ là rất nặng và hà khắc còn đối với người chồng thi hình phạt nhẹ hơn, lỏng lẻo hơn.

Chẳng hạn, khi người chồng và người vợ cùng vi phạm nghĩa vụ chung thủy thì đối vơi người vợ không những bị coi là một trong bảy duyên cớ ( thất xuất )  để người chồng bắt buộc phải ly hôn mà còn phải chịu hình phạt nghiêm khắc như theo Điều 401 của Bộ Luật Hồng Đức thì nếu người vợ gian phụ thì sử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng nếu là vợ chưa cưới thì được giảm một bậc. Nhưng đối với người chồng mà mắc tội thì được xử nhẹ hơn đối vơi người vợ.

Như theo Điều 405 thông gian với vợ người thì phạt 60 trượng, biếm 2 tư và bắt nộp tiền ta. 

Hay khi người chồng phạm lỗi với người vợ thì Bộ luật này không xử phạt trừ khi đánh vợ bị thương hoặc chết nhưng cũng chỉ xử nhẹ hơn đánh người thường ba bậc, tiền đền mạng được bớt ba phần. Trong khi đó, đối với người vợ nếu có hành vi mưu giết cha mẹ chồng thì bị xếp vào tội thập ác ( Điều 2 – Bộ Luật Hồng Đức)

Thứ ba, chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng còn được thể hiện ở quan hệ tài sản. Nếu người chồng chết mà người vợ đi lấy chồng khác thì không được hưởng tài sản và hoa lợi từ tài sản mà người chồng để lại. Nhưng ngược lại thì khi người vợ chết trước, người chồng lấy vợ khác mà vẫn được hưởng tài sản.

 

5. Chế độ hôn nhân bất bình đẳng trong quan hệ giữa vợ cả và vợ lẽ

  1. Người vợ cả có quyền gia trưởng đối với người vợ lẽ.
  2. Trong chế độ hôn nhân đa thê thì chỉ có một, duy nhất một người vợ cả nhưng lại không hạn chế số người vợ lẽ. Vậy nên, quyền gia trưởng của người vợ cả đối với người vợ lẽ cũng giống như quyền gia trưởng của người chồng đối với người vợ. Theo Điều 481 của Bộ Luật Hồng Đức thì tất cả hành vi của người vợ lẽ xâm hại đến người vợ cả thì cũng như xâm hại tới người chồng

Theo điều 483, 484 Bộ Luật Hồng Đức vợ cả đánh những người nhà chồng thì bao giờ cũng được sử nhẹ hơn vợ lẽ.

Hay theo Điều 96 Bộ Luật Gia Long phàm đam the làm thiếp phạt 100 trượng. Vợ cả còn sống mà đem vợ lẽ làm vợ cả thì phạt 90 trượng sửa lại cho đúng. Đã có vợ cả mà cưới người khác về làm vợ cả thì phạt 90 trượng buộc phải ly dị.

Như vây, sự phân biệt giữa vợ cả, vợ lẽ thể hiện rất rõ sự bất bình đẳng trong hôn nhân thời phong kiến, người vợ cả luôn được ưu ái hơn đối với người vợ lẽ. Nhìn chung, chế độ hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam ảnh hưởng rất sâu sắc của lễ nghi Nho giáo, tạo nên một chế độ hôn nhân gia trưởng trong đó có chế độ hôn nhân bất bình đẳng. một chế độ hôn nhân mà địa vị của người phụ nữ bị hạ thấp, mà mục đích hướng tới của hôn nhân chính là lợi ích gia đình, dòng họ. lấy vợ chỉ là để thay chồng trước hết là đảm đương nghĩa vụ thờ phụng tổ tiên sau đó là sinh con trai để nối dõi tông đường.

Dưới triều Nguyễn gia đình hình thành trên mô hình gia đình phụ quyền Trung Quốc có nghĩa là đề cao vai trò cuả người đàn ông và hạ thấp vị trí của người phụ nữ.

Như vây, các quy định của chế độ hôn nhân trong Bộ luật Hồng Đức cũng như Bộ luật Gia Long đó là quyền lợi của người phụ nữ rất ít được đề cập, chính vì vậy mà tạo nên sự bất bình đẳng trong pháp luật hôn nhân và gia đình thời kì  Phong kiến.

Tuy nhiên, quyền lợi của người phụ nữ vẫn được đề cập như có quyền xin ly hôn khi người chòng bỏ lửng vợ 5 tháng, nếu có con thì là 1 năm( Điều 308 Bộ Luật Hồng Đức). Hay trong thời gian đính hôn nếu người con trai bị ác tật, phạm tội hoặc phá sản thì người con giá có quyền từ hô, Quốc triều hình luật cho phép người phụ nữ có chồng tiếp tục làm chủ tài sản riêng của mình .Khi ly dị hay cải giá ,người phụ nữ có quyền lấy lại các tài sản riêng của mình… Đây là điểm tiến bộ vượt bậc của pháp luật thời phong kiến Việt Nam, được nhiều nhà làm luật trên thế giới đánh giá rất cao.

Như vậy, qua những phân tích trên thì ta thấy trong hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam chế độ hôn nhân được các nhà làm luật rất quan tâm, đặc biệt qua đây ta thấy rất rõ chế độ hôn nhân không tự do, bất bình đẳng trong luật hôn nhân và gia đình xủa pháp luật phong kiến Việt Nam.