1. Sự ra đời của kiểu pháp luật phong kiến

Pháp luật phong kiến ra đời ở Trung Quốc vào thế kỉ III trước Công nguyên, ở Tây Âu và Ấn Độ vào khoảng thế kỉ V, ở bán đảo Arập và vùng Trung Á vào khoảng thế kỉ VII, ở Nga, Ba Lan, Ukraina và các dân tộc Xlavơ từ khoảng thế kỉ VỊ đến thế kỉ IX, X.

Pháp luật phong kiến có một số đặc điểm cơ bản như mang tính đẳng cấp, đặc quyền, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tư tưởng tôn giáo, có các hình phạt dã man, tàn bạo, phát triển không toàn diện (nặng về hình sự, nhẹ về dân sự; nặng về công pháp, nhẹ về tư pháp), thể hiện sự bất bình đẳng về giới tính.

Pháp luật phong kiến có các bộ luật nổi tiếng như Bộ luật nhà Tần thế kỉ III trước Công nguyên, Bộ cửu chương luật của nhà Hán (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220), Bộ luật nhà Đường thế kỉ VII, Bộ đại Thanh luật lệ năm 1740 của Trung Quốc, Bộ luật tục Noocmăngđi (Normandie) năm 1275 của Pháp, Bộ luật Saxon thế kỉ XIII của Đức, Bộ hội điển luật lệ Fleta năm 1290 của Anh, Bộ hội điển luật lệ năm 1649 của Nga, Bộ luật Hồng Đức thế kỉ XV của Việt Nam...

 

2. Phân tích về kiểu pháp luật phong kiến

Khác với pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến được xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân của địa chủ, quý tộc phong kiến về tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất và sự bóc lột nông dân thông qua chế độ tô, thuế. Pháp luật phong kiến có đặc điểm sau:

Một là, pháp luật phong kiến xác lập và bảo vệ trật tự đẳng cấp đồng thời thừa nhận và bảo vệ những đặc quyền của các đẳng cấp trên trong xã hội

Pháp luật phong kiến thiết lập và bảo vệ trật tự đẳng cấp trong xã hội thông qua việc phân chia xã hội thành nhiều đẳng cấp khác nhau, thậm chí trong mỗi tổ chức, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng cũng đều có sự phân biệt về thứ bậc, phẩm trật rõ rệt. Giai cấp thống trị được chia thành nhiều đẳng cấp với tước vị quý tộc, địa vị xã hội khác nhau như vương, công, hầu, bá, tử, nam. Pháp luật quy định chế độ thế tập, tập ấm, tập tước trong các đẳng cấp đó. Pháp luật trói buộc người nông dân vào các đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị.

Pháp luật bảo vệ chế độ tư hữu về ruộng đất và chế độ bóc lột địa tô, bảo vệ sự thống trị về chính trị và tư tưởng của giai cấp địa chủ phong kiến và tăng lữ.

Hai là, pháp luật phong kiến dung túng cho việc sử dụng bạo lực và sự tuỳ tiện của những kẻ có quyền lực trong xã hội

Pháp luật cho phép địa chủ, quý tộc phong kiến có toàn quyền tra tấn, xét xử và áp dụng tất cả các hình phạt đối với nông dân mà không cần điều kiện. Ăngghen viết: “Trong những chương giảo huấn của Bộ luật Carôlỉna nói đến việc “cắt tai’’, “xéo mũi”, “khoét mắt”, “chặt ngón tay và bàn tay”, “chặt đầu”, “buộc vào bánh xe đánh cho gẫy chân tay”, “thiêu đốt”, “kẹp bằng kìm nung đỏ”, “phanh thây”... không một chương nào mà bọn lãnh chúa nhân hậu và bọn bảo hộ lại không thể áp dụng với nông dân của chúng, tuỳ theo sở thích” Pháp luật cho phép mọi người trong xã hội có thể giải quyết tranh chấp với nhau bằng cách dùng bạo lực như đấu gươm hoặc đấu súng.

Ba là, pháp luật phong kiến quy định những hình phạt và cách thi hành hình phạt rất dã man, hà khắc

Mục đích của hình phạt trong pháp luật phong kiến chủ yếu là gây đau đớn về thể xác và tinh thần, làm nhục, hạ thấp phẩm giá con người. Do vậy, các hình phạt như chặt đầu, treo cổ, dìm xuống nước, chôn sống, thiêu sống, chặt chân tay, thích chữ vào mặt, ném vào vạc dầu, cắt tai, khoét mắt... được quy định và áp dụng rộng rãi. Hình phạt tử hình được quy định khá phổ biến, có thể được áp dụng đối với hầu hết các loại tội và được thi hành theo những cách thức rất dã man. Pháp luật phong kiến còn mở rộng diện bị trừng phạt, quy định chế độ trách nhiệm tập thể... Chẳng hạn, pháp luật phong kiến Trung Quốc, Việt Nam có quy định hình phạt “tru di”.

Bốn là, pháp luật phong kiến thiếu thong nhất và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo, đạo đức phong kiến

Ở các nước phong kiến trong thời kì phân quyền cát cứ, mỗi lãnh địa có một hệ thống pháp luật riêng, nhiều khi chúng còn có hiệu lực cao hơn pháp luật của nhà vua trung ương. Thực trạng này đã được Voltare phản ánh khá sinh động trong tác phẩm của ông là: “Nếu anh du ngoạn trên đất Pháp, thì mỗi lần anh thay ngựa là mỗi lần luật lệ thay đổi”.

Có thể khẳng định trong thời kì tồn tại của chế độ phong kiến, các tôn giáo lớn trên thế giới như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo... phát huy ảnh hưởng đến mức tối đa trong xã hội, vì thế, pháp luật phong kiến có nhiều quy định là sự thừa nhận và bảo vệ các tín điều tôn giáo. Ở châu Âu, Kinh Thánh giữ địa vị thống trị trong xã hội và có vị trí cao hon pháp luật, nó được đọc trịnh trọng trong các phiên toà xét xử các vụ tội phạm. Ở các nước Hồi giáo, Kinh Koran có hiệu lực trong đời sống xã hội cao hon pháp luật. Nhiều quy định của pháp luật phong kiến là sự thể chế hoá các quan niệm đạo đức phong kiến và là sự thừa nhận các quy tắc đạo đức phong kiến. Ở Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức có nhiều quy định về nghi thức tế lễ của nhà vua, về thủ tục cưới hỏi, ma chay, để tang người thân, quy định về sự tam tòng của người phụ nữ theo quan niệm của Nho giáo...

Tưong tự như pháp luật chủ nô, trong pháp luật phong kiến chưa có sự phân định rõ ràng giữa các lĩnh vực pháp luật, do đó, hầu hết các bộ luật phong kiến đều là những bộ luật tổng hợp điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau, biện pháp trừng phạt của nhà nước đối với các chủ thể vi phạm cũng chủ yếu là hình phạt.

Luật Minh Khuê (biên tập)