1. Chế độ sở hữu tập thể là gì?

Chế độ sở hữu tập thể là chế độ sở hữu gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về sở hữu tập thể.

Sở hữu tập thể là hình thức quan trọng của sở hữu xã hội chủ nghĩa, trong đó các tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, các phương tiện và tài sản khác thuộc về tổ chức kinh tế tập thể. Ví dụ: sở hữu tập các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, hợp thể của xã dịch vụ, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tá tác xã đánh cá...

Ở Việt Nam, chế độ sở hữu tập thể cùng với sở hữu loài dân được Hiến pháp năm 1992 xác định là nền tảng của nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XI. Chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa).

2. Quy định chung về sở hữu tập thể

Chủ thể của sở hữu tập thể

Căn cứ Điều 208 Bộ luật dân sự thì chủ thể của sở hữu tập thể chính là hợp tác xã riêng biệt hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác.

Tài sản của sở hữu tập thể

Tài  sản thuộc sở hữu tập thể được quy định tại Điều 209 Bộ luật dân sự 2015, bao gồm:

Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên

Thu nhập hợp pháp do sản xuất, kinh doanh

Tài sản được Nhà nước hỗ trợ

Từ các nguồn khác phù hợp với qu định của pháp luật

3. Nội dung của sở hữu tập thể

Nội dung của sở hữu tập thể (bao gồm cả ba lĩnh vực: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) được quy định tại Điều 210 “Bộ luật dân sự 2015” như sau:

“Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể.

1. Chiếm hữu, sử dụng và  định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể phải tuân theo pháp luật, phù hợp với điều lệ của tập thể đó, bảo đảm sự phát triển ổn định của sở hữu tập thể.

2. Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể được giao cho các thành viên khai thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu cầu của các thành viên.

3. Thành viên của tập thể có quyền ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể”.

4. Phân biệt sở hữu tập thể với sở hữu chung

Hình thức sở hữu tập thể thường gây nhầm lẫn với hình thức sở hữu chung, Để phân biệt hai hình thức sở hữu này, có thể căn cứ vào một số đặc trưng sau:

Chủ sở hữu tập thể thường chỉ giới hạn ở một số đối tượng nhất định (không có người nước ngoài), trong khi sở hữu chung thì không.

Vấn đề sử dụng tài sản thuộc sở hữu tập thể phải gắn với các hoạt động kinh tế; còn sở chung có thể tồn tại trong cả kinh tế hoặc dân sự.

Mục đích khai thác tài sản thuộc sở hữu tập thể không đơn thuần vì lợi ích kinh tế, mà phải hướng đến giải quyết các nhu cầu chung, cải thiện và nâng cao đời sống cả vật chất lẫn tinh thần cho thành viên, thể hiện rõ tính cộng đồng, tương trợ lần nhau.

Phương thức thực hiện quyền sở hữu tập thể luôn gắn liền với tổ chức và hoạt động của một thực thể pháp lý nhất định (chủ thể của quyền sở hữu tập thể), chứ không phải là cơ chế đồng thuận của nhiều chủ thể độc lập nhau như hình thức sở hữu chung.

5. Pháp luật quy định thế nào về hình thức sở hữu tập thể

Tại điều 208, Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi”.

  • Chủ thể của sở hữu tập thể

Chủ thể của sở hữu tập thể là bản thân từng hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành, nghề khác do những người lao động có nhu cầu hợp tác vì lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật. Mỗi hợp tác xã là một chủ thể riêng biệt, là chủ sở hữu riêng đối với tài sản của mình. Hợp tác xã trong sở hữu tài sản tập thể là một chủ thể thống nhất không phụ thuộc vào số lượng xã viên.

  • Khách thể của sở hữu tập thể

 Khách thể của quyền sở hữu hợp tác xã bao gồm các tư liệu sản xuất cần thiết cho hoạt động của hợp tác xã như: tài sản góp vốn của xã viên, nhà cửa, kho tàng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, gia súc, tiền tệ… Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể  được hình thành từ các nguồn, cụ thể như: tất cả các tư liệu sản xuất phục vụ cho nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh, các tư liệu sản xuất phục vụ cho nhu cầu phát triển ngành nghề phụ, nâng cao thu nhập cho xã viên, các tài sản từ đóng góp của các thành viên, các thu nhập hợp pháp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, các loại quỹ, vốn được nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật.Hợp tác xã phải có đăng ký kinh doanh, hoạt động theo đúng ngành nghề, sản xuất đúng loại sản phẩm đã đăng ký.

  • Nội dung của sở hữu tập thể

Cá nhân có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh. Trong những trường hợp vì lợi ích công, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác nhau thì quyền năng của cá nhân bị hạn chế. Tại điều 210, BLDS quy định: “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể phải tuân theo pháp luật, phù hợp với điều lệ của tập thể đó, bảo đảm sự phát triển ổn định của sở hữu tập thể.

2. Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể được giao cho các thành viên khai thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu cầu của thành viên.

3. Thành viên của tập thể có quyền được ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể”.

Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của của cá nhân trong tập thể là ngang nhau, hoặc theo tỉ lệ đóng góp. Nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận nhất trí theo quy định của pháp luật.

6. Vấn đề đổi mới chế độ sở hữu ở nước ta

Từ Đại hội VI của Đảng ta đến nay, chúng ta đã chủ trương xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Với chủ trương này, chế độ sở hữu ở nước ta trên thực tế đã là chế độ đa sở hữu gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu hợp tác, sở hữu tư nhân cá thể, sở hữu tư bản trong và ngoài nước… Chế độ sở hữu trên đây đã có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế trong thời gian qua. Song, hiện đang còn tồn tại không ít vấn đề cần phải tiếp tục xem xét giải quyết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Những vấn đề đó là: chế độ sở hữu và định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế nhà nước là chủ đạo, kinh tế quốc doanh có vai trò gì, nhà nước phải tiến hành như thế nào việc nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, hạn điền ở mức nào, có phát triển kinh tế trang trại không? Những vấn đề trên cho đến nay chưa được làm rõ và đã ảnh hưởng đến việc điều hành thực tế của Đảng và Nhà nước ta.

6.1. Về chế độ sở hữu và định hướng xã hội chủ nghĩa

Cách hiểu thứ nhất cho rằng, chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác là sở hữu xã hội chủ nghĩa, còn các hình thức sở hữu khác là phi xã hội chủ nghĩa. Tuy trong các nghị quyết về kinh tế của Đảng ta từ Đại hội VII đến nay đã không có sự phân định rạch ròi như vậy. Nhưng không ít tài liệu và một số người vẫn giữ quan điểm này. Về lý luận xét theo cách nhìn của C.Mác về chủ nghĩa xã hội, ở nước ta chưa có cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho các quan hệ sở hữu chủ nghĩa xã hội và ngay trong các tác phẩm của C.Mác cũng không có chỗ nào xác định quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa là sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác. Quan điểm này có hại đối với thực tiễn, vì với quan điểm này, hệ thống quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế và do đó các giai tầng xã hội bị chia ra làm hai bộ phận đối lập nhau, một bên là xã hội chủ nghĩa và bên kia là phi xã hội chủ nghĩa. Sự đối lập này sẽ triệt tiêu mất động lực phát triển. Các cuộc cải tạo đã từng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa càng nhanh càng tốt bất chấp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đến đâu. Thực tế cho thấy, nếu lực lượng sản xuất còn lạc hậu, công nghệ kém cỏi thì dù có nhà nước hoá 100% tư liệu sản xuất đất đai thì vẫn chưa có chủ nghĩa xã hội và những quan hệ sở hữu đó vẫn chưa phải là xã hội chủ nghĩa, mà chỉ là quan hệ công hữu trá hình, nghĩa là về hình thức các tư liệu sản xuất đã thuộc xã hội, nhưng thực chất vẫn do các tầng lớp tư nhân của xã hội chi phối, chưa kể là các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể trong nhiều năm đã làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và có nhiều tiêu cực trái với bản chất tiến bộ của chủ nghĩa xã hội.

Cách hiểu thứ hai cho rằng, tất cả các quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay đều có tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý do là thể chế của nước ta là thể chế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi pháp nhân thuộc mọi hình thức sở hữu đều phải hoạt động theo thể chế đó, do vậy không thể chỉ có sở hữu nhà nước và hợp tác mới có tính định hướng xã hội chủ nghĩa, mà mọi hình thức sở hữu đều có tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể đã có không ít xí nghiệp quốc doanh hoạt động không theo các thể chế của nhà nước, vi phạm pháp luật, đã không có tính định hướng xã hội chủ nghĩa bằng các xí nghiệp tư nhân tuân thủ pháp luật. Với cách hiểu như vậy, hệ thống quan hệ sở hữu của nước ta sẽ không bị phân chia ra thành hai bộ phận đối lập nhau như trước, mà là một hệ thống nhất, có một động lực chung là thúc đẩy công nghiệp phát triển, thúc đẩy lực lượng sản xuất tiến bộ - tạo dựng tiền đề vật chất cho xã hội tương lai.

Hình thức sở hữu cổ phần là hình thức sở hữu có tính xã hội cao nhất cho đến nay và cũng là tiến bộ nhất. Do vậy, các hình thức sở hữu của nước ta phải dần chuyển sang hình thức sở hữu cổ phần. Đảng ta đã xác định đây là hình thức sở hữu phổ biến của xã hội.

6.2. Về kinh tế nhà nước là chủ đạo

Trong mô hình kinh tế Xô Viết, kinh tế quốc doanh là xã hội chủ nghĩa phải có và đã có địa vị thống trị trong nền kinh tế quốc dân. Ở nước ta kinh tế quốc doanh đã có địa vị thống trị này. Đi vào thời kỳ cải cách và đổi mới, Trung Quốc và Việt Nam chuyển địa vị của kinh tế quốc doanh từ thống trị xuống chủ thể (Trung Quốc) và chủ đạo (Việt Nam). Đến Đại hội VIII của Đảng, vai trò chủ đạo của quốc doanh đã thay đổi, Đảng ta đã xem kinh tế nhà nước mới có vai trò chủ đạo chứ không phải là quốc doanh. Đó là những thay đổi rất quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng ta.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước hiện được quan niệm là: ổn định, điều tiết, định hướng nền kinh tế. Để làm được vai trò này, nhà nước phải sử dụng các cộng cụ thể chế gồm luật pháp, hành pháp và tư pháp, các công cụ kinh tế gồm tiền tệ, tài chính, các xí nghiệp quốc doanh. Như vậy, các xí nghiệp quốc doanh chỉ là một trong các công cụ để nhà nước ổn định, điều tiết, định hướng nền kinh tế.

Tuy nhiên, khu vực kinh tế quốc doanh của nước ta mặc dù nắm giữ nhiều nguồn lực quốc gia rất lớn nhưng hầu như chưa phát huy hết hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và còn xảy ra những sai phạm.

Khu vực kinh tế quốc doanh chỉ nên tập trung vào những vị trí cần thiết như: cơ sở hạ tầng, dịch vụ công, công nghiệp quốc phòng, công nghệ cao... và điều quan trọng là khu vực này phải có nhiệm vụ hỗ trợ kinh tế tư nhân.

6.3. Về vấn đề sở hữu bất động sản bao gồm đất đai, nhà xưởng, nhà ở…

Trong các nguồn vốn của xã hội thì vốn chứa đựng trong các bất động sản là lớn nhất. Ở các nền kinh tế thị trường phát triển, các nguồn vốn bất động sản được lưu thông qua thị trường chứng khoán. Các nhà xưởng, xí nghiệp được cổ phần hoá và người ta có thể bán các cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán. Do vậy, nhà xưởng, xí nghiệp vẫn ở nguyên vị trí, nhưng giá trị của nó đã lưu chuyển hàng ngày qua tay hết chủ này đến chủ khác. Không có thị trường chứng khoán thì các nguồn vốn với tư cách là hàng hoá sẽ không có chỗ để bán, và do vậy vốn không lưu thông được, nó bị tồn đọng ở những ông chủ kém cỏi không biết làm ăn, và những người tài ba thì không sao kiếm được vốn. Ở nước ta, thị trường chứng khoán tuy đã có, nhưng còn kém phát triển. Một điều kiện quan trọng đối với sự phát triển kinh tế thị trường là các bất động sản phải được tự do lưu thông, tự do mua bán như các thứ hàng hóa khác. Ở nước ta, tuy đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng nhà nước đã giao cho dân 5 quyền, trong đó có quyền chuyển nhượng và thừa kế. Song trên thực tế, quyền chuyển nhượng đất đai chưa được thực hiện dễ dàng, mà hiện còn bị nhiều thủ tục phiền hà cản trở. Hơn nữa, chế độ hạn điền cũng đang ngăn cản sự lưu chuyển này vì thời hạn giao đất quá ngắn. Nếu đất đai không được chuyển nhượng và lưu thông tự do, mà phải được phân phối đồng đều và buộc mọi nông dân phải sử dụng chúng như hiện nay thì đó sẽ là một sự lãng phí to lớn. Trước hết là lãng phí về đất đai, vì đất đai không tập trung vào tay những người biết kinh doanh, mà lại rơi vào tay những người mà phần đông trong số đó lại không biết kinh doanh, hoặc kinh doanh yếu kém. Thứ hai là lãng phí về nhân lực, do mọi lao động đều buộc phải bám vào mảnh đất nhà nước, cho nên đã không tạo ra một sự phân công lao động theo sở trường và nhu cầu xã hội.

Thị trường đòi hỏi phải có sự lưu thông tự do và tích tụ cũng tự do. Lưu thông và tích tụ tự do để các nguồn lực có thể chuyển từ các ông chủ kinh doanh kém hiệu quả sang các ông chủ kinh doanh có hiệu quả hơn, và tạo ra một quy mô kinh doanh đất đai hợp lý. Mô hình trang trại là thích hợp cho sự lưu thông và tích tụ ruộng đất hiện nay và cũng là mô hình phát triển ở các nền kinh tế thị trường.

Nếu các trang trại ra đời thì ruộng đất sẽ tích tụ trong tay những người biết kinh doanh, còn những người nông dân đã nhượng quyền sử dụng ruộng đất của mình rồi có thể đi làm những nghề thích hợp với sở trường của họ. Một số người chuyên làm chăn nuôi, dịch vụ, xây dựng, đi làm tại khu công nghiệp… Việc làm là điều quan trọng nhất đối với người lao động chứ không phải là ruộng đất, không nên bắt mọi người lao động phải làm quản lý, vì quản lý là một nghề, không phải ai cũng làm được. Trong các vùng nông thôn nước ta, đã có không ít nông dân đã được cấp ruộng rồi lại bán, đi làm thuê. Để giải quyết việc làm cho nông dân, Nhà nước phải có những chính sách thích hợp. Trước hết, Nhà nước cần rà soát lại, bãi bỏ tất cả các thể chế trói buộc hạn chế quyền kinh doanh của nông dân. Mở rộng tín dụng cho nông dân vay phát triển ngành nghề. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của nông dân ở trong và ngoài nước. Phát triển mạng lưới đào tạo nghề nghiệp ở nông thôn và mở rộng dịch vụ xuất khẩu lao động.

6.4. Về vấn đề sở hữu tư bản tư nhân

Sở hữu tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân nói chung và sở hữu tư bản tư nhân nói riêng ở nước ta phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì khu vực này phải hoạt động theo pháp luật và các thể chế của nước ta (mà luật pháp và các thể chế của nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa), có đóng góp cho ngân sách nhà nước, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước và giải quyết các vấn đề xã hội… Ta không thể có lý do nào để xem khu vực sở hữu tư nhân đi ngược với định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong khu vực sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là hình thức sở hữu tiến bộ nhất, tiến bộ hơn hình thức tư hữu nhỏ manh mún, tiến bộ hơn cả hình thức sở hữu của tiểu chủ, càng tiến bộ hơn sở hữu cá thể của nông dân. Điều này đã được C.Mác, Ph.Ăngghen nói tới trong các tác phẩm. Chính hình thức sở hữu tư bản tư nhân mới thích hợp với lực lượng sản xuất của nền công nghiệp, mới thúc đẩy nền công nghiệp ấy phát triển. Tuy nhiên, những hạn chế của chế độ sở hữu tư bản tư nhân là rõ rệt, đó là bóc lột lao động làm thuê. Nhưng người ta lại không thể chỉ chấp nhận mặt tiến bộ của sở hữu tư bản tư nhân, mà phải chấp nhận cả mặt hạn chế của nó. Theo cách diễn đạt của C.Mác, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa phát triển tới mức độ cao nhất của nó là sở hữu cổ phần và sở hữu cổ phần là sự xoá bỏ chế độ tư hữu trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản và là điểm quá độ sang chế độ công hữu.

Như vậy, sở hữu tư bản tư nhân đã không chuyển sang chế độ công hữu bằng cách nhà nước hoá và hợp tác hoá, mà bằng cách cổ phần hoá, xem như đó là hình thức quá độ sang chế độ công hữu.

Vấn đề bóc lột lao động đã được C.Mác phê phán gay gắt và xem đó là tội lỗi ghê tởm nhất của chủ nghĩa tư bản. Xã hội ngày nay đã có những giải pháp hạn chế sự bóc lột lao động: Nhà nước quy định mức lương tối thiểu, đủ đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động; Đánh thuế thu nhập luỹ tiến, giảm bớt thu nhập của những người có thu nhập cao; Khuyến khích tích luỹ mở rộng sản xuất - không đánh thuế; Đánh thuế cao vào việc thừa kế các tài sản để tiêu dùng; Khích lệ việc lập các quỹ tư nhân phục vụ cho phúc lợi xã hội.

Những biện pháp trên đây, thực tế đã giảm bớt mức độ bóc lột lao động.