1. Quan điểm của C.Mác về sở hữu tư nhân và kinh tế thị trường

Trong các tác phẩm của C.Mác, dường như C.Mác đã không dùng khái niệm kinh tế thị trường, mà C.Mác thường dùng khái niệm sản xuất hàng hoá.

C.Mác đã nói đến hai điều kiện cho sự ra đời của sản xuất hàng hoá, đó là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân công lao động xã hội. Hai điều kiện này đã xuất hiện rất sớm, ngay từ thời nguyên thuỷ đã có những bộ lạc chăn nuôi, hay trồng trọt, và sở hữu bộ lạc là hình thức tư hữu nguyên thuỷ nhất. Những điều kiện này càng phát triển mạnh hơn trong xã hội nô lệ và phong kiến. Do vậy, nền sản xuất hàng hoá đã ra đời và phát triển trước chủ nghĩa tư bản, nhưng đó là nền sản xuất hàng hoá giản đơn. C.Mác cho rằng, nền sản xuất hàng hoá trên đây đã có trong chế độ nô lệ, nông nô, nhưng nó chỉ thịnh vượng khi người lao động là chủ tự do của những tư liệu lao động do họ sử dụng như những người nông dân và thợ thủ công tự do. Song C.Mác cho rằng, nền sản xuất hàng hoá này đã chưa có tính phổ biến, điển hình, nó chỉ tồn tại trong các “lỗ chân lông” của xã hội Trung cổ.

Theo C.Mác, chỉ đến khi sức lao động được đem bán tự do và trở thành hàng hoá, nghĩa là khi quan hệ tư bản và lao động làm thuê xuất hiện và phát triển phổ biến thì sản xuất hàng hoá mới thực sự trở thành phương thức điển hình và phổ biến. Với quan niệm này của C.Mác, sản xuất hàng hoá tuy ra đời trước chủ nghĩa tư bản, nhưng nó chỉ thực sự trở thành sản xuất hàng hoá phổ biến và điển hình khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện.

Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã khá phát triển vào thời C.Mác, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như: tuy sức lao động đã được lưu thông tự do, nhưng đất đai và các bất động sản đã chưa được lưu thông tự do, vì lúc đó thị trường vốn, chế độ cổ phần, chế độ thế chấp… chưa phát triển. Trong thời C.Mác, hàng hoá chủ yếu là các hàng hoá hữu hình, người ta có thể sờ mó được. Hàng hoá tư bản, hàng hoá vô hình tuy đã có, nhưng chưa là hình thái phổ biến. Gọi là sản xuất hàng hoá, C.Mác muốn nói tới một nền sản xuất ra hàng núi khổng lồ các hàng hóa hữu hình. Tuy nhiên, C.Mác cũng đã nói tới sản xuất hàng hoá theo nghĩa rộng nhất, bao gồm cả sản xuất, trao đổi, lưu thông và tiêu dùng. Với ý nghĩa này, quan niệm sản xuất hàng hoá của C.Mác đã gần với quan niệm về kinh tế thị trường hiện nay.

Khái niệm kinh tế thị trường thực sự đã xuất hiện sau C.Mác. Trong vòng mấy chục năm gần đây, hàng hoá vô hình bao gồm: các chứng khoán, các dịch vụ mua bán tiền tệ, các dịch vụ thông tin, tư vấn, bảo hiểm… đã phát triển hết sức nhanh chóng, tỷ phần của nó đang ngày càng lấn át tỷ phần của hàng hoá hữu hình. Trong ba yếu tố quan trọng của nền kinh tế thị trường có vai trò điều tiết của cơ chế thị trường thì C.Mác mới bàn đến hai yếu tố: giá cả hàng hoá và lãi suất; còn tỷ giá, C.Mác chưa bàn đến. Lý do là ở thời C.Mác, vàng giữ vai trò tiền tệ thế giới, nên tỷ giá không có ý nghĩa quan trọng như ngày nay, hơn nữa phần quan hệ kinh tế quốc tế tuy có trong đề cương của Bộ Tư bản, nhưng C.Mác chưa kịp viết. Hơn nữa, trong thời C.Mác, nền kinh tế đã chịu sự điều tiết chủ yếu của giá cả, lãi suất cũng chưa trở thành công cụ điều tiết. C.Mác đã có lý khi đặt tên cho nền sản xuất thời C.Mác là sản xuất hàng hoá, vì đó là nền sản xuất hầu như chỉ sản xuất ra các hàng hoá, do giá cả hàng hoá điều tiết. Các nhà kinh tế hiện đại gọi nền kinh tế hiện nay là kinh tế thị trường, có thể là thích hợp hơn khái niệm kinh tế hàng hoá.

2. Chế độ sở hữu dưới chủ nghĩa tư bản

So với thời C.Mác, chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đại đã có những thay đổi hết sức quan trọng.

1) Đã xuất hiện sở hữu nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước ở tất cả các nước tư bản chủ nghĩa với những tỷ trọng lớn, nhỏ khác nhau, có chức năng ổn định và điều tiết kinh tế, ở thời C.Mác hầu như chưa có khu vực kinh tế nhà nước đảm nhiệm chức năng này.

2) Hình thức sở hữu cổ phần cùng với các loại tiền gửi tiết kiệm, các trái phiếu, các giấy tờ có mệnh giá đã phát triển và trở thành hình thức huy động vốn phổ biến trong xã hội, hình thức này đã biến mọi tầng lớp dân cư có thu nhập trong xã hội thành các chủ sở hữu vốn và hưởng lợi tức. Đã xuất hiện những hình thức sở hữu liên quốc gia, đa quốc gia.

3) Đánh thuế vào các loại thu nhập, đánh thuế luỹ tiến vào các nguồn thu nhập cao với mức cao nhất tới 50 - 70% tổng thu nhập, đánh thuế cao vào tài sản thừa kế, một số nước đã ban hành luật xoá bỏ quyền thừa kế tài sản. Điều đáng chú ý là, ngân sách nhà nước được sử dụng ngày càng nhiều hơn cho các mục tiêu dân sinh và phúc lợi xã hội.

4) Sở hữu trí tuệ đã phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng. Trong kết cấu sở hữu hỗn hợp gồm ba bộ phận: sở hữu tư nhân - sở hữu nhà nước - sở hữu cổ phần, C.Mác đã có những nhận xét rất đáng chú ý tới hình thức sở hữu cổ phần.

Dưới đây xin trích dẫn các ý kiến của C.Mác.

“Trong các công ty cổ phần, tư bản chức năng đã tách khỏi tư bản sở hữu, cả lao động cũng hoàn toàn tách khỏi sở hữu tư liệu sản xuất và lao động thặng dư. Đó là kết quả của sự phát triển cao hơn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất yếu dẫn tới sự chuyển hoá ngược của tư bản thành sở hữu của những người sản xuất tách biệt nhau và thành sở hữu xã hội trực tiếp”2.

“Sản xuất tư bản chủ nghĩa của những công ty cổ phần đã không còn là nền sản xuất tư nhân nữa, mà là một nền sản xuất cho một số cổ đông”3.

“Công ty cổ phần trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội (tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp với nhau) đối lập với tư bản tư nhân; còn các xí nghiệp của nó biểu hiện ra các xí nghiệp xã hội đối lập với các xí nghiệp tư nhân. Đó là sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân trong khuôn khổ bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”4.

“Công ty cổ phần là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng trong quá trình tái sản xuất cho đến nay vẫn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn thuần thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp, trở thành những chức năng xã hội”5.

Từ những lời trích dẫn trên đây ta thấy, sở hữu cổ phần là hình thức phát triển tột cùng của chế độ tư hữu, trong đó tính xã hội đã đạt tới mức cao nhất. Hình thức sở hữu này đã thể hiện những tác động to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế. Những tác động đó là:

- Huy động tốt nhất các nguồn vốn xã hội;

- Phân phối và lưu chuyển vốn hữu hiệu tới những nơi có hiệu quả cao;

- Đặt quá trình sử dụng và lưu chuyển vốn dưới sự kiểm soát rộng rãi và công khai của xã hội qua các thông tin công khai về hoạt động tài chính của các công ty cổ phần;

- Giảm bớt sự đối kháng giữa chủ sở hữu và người lao động, do số đông lao động trong công ty cổ phần cũng là các cổ đông.

3. Việc thủ tiêu chế độ tư hữu

C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần nói tới việc thủ tiêu chế độ tư hữu trong các đoạn văn rất nổi tiếng sau đây:

“Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về cải tạo toàn bộ chế độ xã hội. Việc cải tạo này là kết quả tất yếu của phát triển công nghệ”6.

“Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu”7.

“Không, không thể được, cũng như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu. Cho nên cuộc cách mạng của giai cấp vô sản... sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó, thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu”8.

Những đoạn trích dẫn trên cho ta thấy quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề xoá bỏ chế độ tư hữu như sau:

1. Xoá bỏ chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất lý luận của những người cộng sản về cải tạo toàn bộ xã hội và đó không phải là một việc làm dễ dàng bằng một nghị quyết, hay một chiến dịch cải tạo nào đó.

2. C.Mác đã xem sự xoá bỏ chế độ tư hữu là kết quả tất yếu của sự phát triển của công nghiệp với việc tạo ra một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết, nghĩa là sự xoá bỏ này không phải là mong muốn chủ quan của một số người hay của cả một giai cấp nào đó. Những người cộng sản không thể xoá bỏ chế độ tư hữu rồi mới phát triển công nghiệp, mà ngược lại, phải phát triển công nghiệp rồi mới dần dần xóa bỏ chế độ tư hữu.

Thực tế thế giới cho thấy, ngay như nền văn minh công nghiệp hiện đã đạt tới đỉnh cao nhất và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nhưng cũng vẫn chưa đủ các tiền đề cần thiết để xoá bỏ chế độ tư hữu, chế độ tư hữu vẫn còn phát triển.

4. Sở hữu nhà nước

Sở hữu nhà nước đã có từ rất lâu với hình thức sở hữu sơ khai đầu tiên là sở hữu bộ lạc do chiến tranh tạo ra. Dưới chế độ nô lệ, phong kiến, các nhà nước đều có sở hữu về tài sản, chủ yếu là đất đai và nô lệ (thời nô lệ). Cho mãi đến giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản - giai đoạn chủ nghĩa tư bản trước chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước - nhà nước hầu như vẫn đứng ngoài đời sống kinh tế, tuy đã làm một số chức năng kinh tế như: định một số luật lệ, đúc và in tiền, thu thuế… Nhà nước chưa tham gia điều tiết kinh tế, thị trường đã toàn quyền tác động. Sở hữu nhà nước đã tồn tại chủ yếu như một số cơ sở phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng của các vua chúa và bộ máy quan liêu.

Chỉ từ khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh lâm vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng năm 1929 - 1933, lý thuyết Keynes ra đời thì nhà nước mới trở thành “Bàn tay hữu hình”, mới thực sự tham gia vào công việc điều tiết nền kinh tế, và từ đó nhà nước mới có khu vực kinh tế quốc doanh dựa trên sở hữu nhà nước. Khu vực quốc doanh dựa trên sở hữu nhà nước chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, dịch vụ công, những lĩnh vực mũi nhọn tiến bộ kỹ thuật; và các lĩnh vực cần thiết mà tư nhân không muốn kinh doanh… Khu vực quốc doanh này hầu như không có mục tiêu kiếm lợi, mà chỉ giữ vai trò ổn định, hỗ trợ và góp phần định hướng cho nền kinh tế. Tỷ trọng của quốc doanh trong các nền kinh tế này không lớn, chỉ chiếm 15 - 20% GDP, ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa phát triển, tỷ lệ này chỉ dưới 10%.

Xu hướng chung của các quốc gia phát triển hiện nay là tiếp tục thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước nói chung, sở hữu nhà nước nói riêng, với mô hình “nhà nước nhỏ nhưng hữu hiệu”. Những giải pháp làm cho nhà nước nhỏ đi là: giảm thuế - giảm nguồn tài chính nhà nước, tư nhân hoá - giảm các cơ sở quốc doanh; giảm bớt biên chế và tổ chức. Tuy nhiên, cứ mỗi lần khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng xảy ra, nhà nước lại can thiệp mạnh hơn vào đời sống kinh tế với các công cụ chủ yếu là tài chính, tiền tệ và luật pháp, kể cả việc quốc hữu hoá.

5. Chế độ công hữu

Theo các sách tiếng Nga, Pháp, Đức, thì công hữu là sở hữu xã hội hay sở hữu công xã.

C.Mác, Ph.Ăngghen và cả V.I.Lênin cũng đã không đưa ra một định nghĩa đầy đủ về chế độ công hữu. Song, theo trình bày của các nhà kinh điển này trong nhiều công trình của mình, có thể hiểu nội dung của chế độ công hữu, như: Đó là sở hữu của những cá nhân người lao động được giải phóng và liên hợp lại; Không dẫn đến bóc lột lao động; Có tính xã hội trực tiếp.

Theo quan niệm của các ông, chế độ công hữu với nội dung trên đây sẽ được thiết lập đầy đủ ở xã hội cộng sản chủ nghĩa với những tiền đề là:

1. Lực lượng sản xuất tương ứng với chế độ công hữu là những cơ sở vật chất phát triển cao, cho phép của cải tuôn ra dào dạt, tới mức như những sản phẩm của tự nhiên, do vậy của cải của xã hội sẽ không là các sản phẩm vật chất, mà là thời gian tự do, là trí tuệ. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã từng cho rằng, đại công nghiệp có thể là cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội cộng sản. C.Mác cũng đã từng nghĩ, đường sắt sẽ tồn tại vĩnh viễn, và do vậy chi phí vận tải đường sắt sẽ là không đáng kể… Nhưng thực tế đã không như vậy. Công nghiệp, ngay cả đại công nghiệp có thể chưa là cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Vì với nền đại công nghiệp hiện nay, của cải xã hội chưa tuôn ra dào dạt, thời gian tự do chưa là hình thức cơ bản của của cải xã hội, có thể các công nghệ mới đang xuất hiện như công nghệ thông tin, công nghệ vi sinh... sẽ là những cơ sở kỹ thuật của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

2. Lực lượng sản xuất phát triển cao như vậy sẽ là cơ sở vật chất kỹ thuật cho nhà nước tiêu vong, cho sự xoá bỏ các giai cấp và sở hữu tư nhân, cho sự tiêu vong của nền sản xuất hàng hoá hữu hình, và đó cũng là cơ sở cho sự ra đời của chế độ công hữu, chế độ sở hữu xã hội. Có thể có sự khác nhau cơ bản giữa chế độ tư hữu và công hữu, chế độ tư hữu nói chung là chế độ sở hữu những tư liệu sản xuất những sản phẩm hữu hình, sở hữu hàng hoá vật chất còn chế độ công hữu là chế độ sở hữu trí tuệ, sở hữu một thứ vô hình, sở hữu thời gian tự do như C.Mác thường dùng.

Với quan niệm trên đây của các nhà kinh điển thì các chế độ sở hữu được thiết lập khi chưa có một nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển cao, nhà nước với tư cách là công cụ của một giai cấp còn tồn tại, các giai cấp khác nhau còn tồn tại, kinh tế hàng hoá còn phát triển... thì các chế độ sở hữu đó dù là sở hữu nhà nuớc hay là sở hữu cổ phần cũng chưa thể xem là chế độ công hữu, nhiều lắm chúng cũng chỉ là những hình thức sở hữu quá độ.

Theo cách hiểu của các nhà kinh điển, sở hữu nhà nước không phải là công hữu. Cách hiểu chế độ công hữu với hai hình thức - sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân) và sở hữu tập thể - là cách hiểu sau này của các nhà kinh tế Xô Viết.

6. Vấn đề đổi mới chế độ sở hữu ở nước ta

Từ Đại hội VI của Đảng ta đến nay, chúng ta đã chủ trương xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Với chủ trương này, chế độ sở hữu ở nước ta trên thực tế đã là chế độ đa sở hữu gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu hợp tác, sở hữu tư nhân cá thể, sở hữu tư bản trong và ngoài nước… Chế độ sở hữu trên đây đã có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế trong thời gian qua. Song, hiện đang còn tồn tại không ít vấn đề cần phải tiếp tục xem xét giải quyết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Những vấn đề đó là: chế độ sở hữu và định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế nhà nước là chủ đạo, kinh tế quốc doanh có vai trò gì, nhà nước phải tiến hành như thế nào việc nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, hạn điền ở mức nào, có phát triển kinh tế trang trại không? Những vấn đề trên cho đến nay chưa được làm rõ và đã ảnh hưởng đến việc điều hành thực tế của Đảng và Nhà nước ta.

7. Về chế độ sở hữu và định hướng xã hội chủ nghĩa

Cách hiểu thứ nhất cho rằng, chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác là sở hữu xã hội chủ nghĩa, còn các hình thức sở hữu khác là phi xã hội chủ nghĩa. Tuy trong các nghị quyết về kinh tế của Đảng ta từ Đại hội VII đến nay đã không có sự phân định rạch ròi như vậy. Nhưng không ít tài liệu và một số người vẫn giữ quan điểm này. Về lý luận xét theo cách nhìn của C.Mác về chủ nghĩa xã hội, ở nước ta chưa có cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho các quan hệ sở hữu chủ nghĩa xã hội và ngay trong các tác phẩm của C.Mác cũng không có chỗ nào xác định quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa là sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác. Quan điểm này có hại đối với thực tiễn, vì với quan điểm này, hệ thống quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế và do đó các giai tầng xã hội bị chia ra làm hai bộ phận đối lập nhau, một bên là xã hội chủ nghĩa và bên kia là phi xã hội chủ nghĩa. Sự đối lập này sẽ triệt tiêu mất động lực phát triển. Các cuộc cải tạo đã từng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa càng nhanh càng tốt bất chấp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đến đâu. Thực tế cho thấy, nếu lực lượng sản xuất còn lạc hậu, công nghệ kém cỏi thì dù có nhà nước hoá 100% tư liệu sản xuất đất đai thì vẫn chưa có chủ nghĩa xã hội và những quan hệ sở hữu đó vẫn chưa phải là xã hội chủ nghĩa, mà chỉ là quan hệ công hữu trá hình, nghĩa là về hình thức các tư liệu sản xuất đã thuộc xã hội, nhưng thực chất vẫn do các tầng lớp tư nhân của xã hội chi phối, chưa kể là các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể trong nhiều năm đã làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và có nhiều tiêu cực trái với bản chất tiến bộ của chủ nghĩa xã hội.

Cách hiểu thứ hai cho rằng, tất cả các quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay đều có tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý do là thể chế của nước ta là thể chế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi pháp nhân thuộc mọi hình thức sở hữu đều phải hoạt động theo thể chế đó, do vậy không thể chỉ có sở hữu nhà nước và hợp tác mới có tính định hướng xã hội chủ nghĩa, mà mọi hình thức sở hữu đều có tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể đã có không ít xí nghiệp quốc doanh hoạt động không theo các thể chế của nhà nước, vi phạm pháp luật, đã không có tính định hướng xã hội chủ nghĩa bằng các xí nghiệp tư nhân tuân thủ pháp luật. Với cách hiểu như vậy, hệ thống quan hệ sở hữu của nước ta sẽ không bị phân chia ra thành hai bộ phận đối lập nhau như trước, mà là một hệ thống nhất, có một động lực chung là thúc đẩy công nghiệp phát triển, thúc đẩy lực lượng sản xuất tiến bộ - tạo dựng tiền đề vật chất cho xã hội tương lai.

Hình thức sở hữu cổ phần là hình thức sở hữu có tính xã hội cao nhất cho đến nay và cũng là tiến bộ nhất. Do vậy, các hình thức sở hữu của nước ta phải dần chuyển sang hình thức sở hữu cổ phần. Đảng ta đã xác định đây là hình thức sở hữu phổ biến của xã hội.

7. Về kinh tế nhà nước là chủ đạo

Trong mô hình kinh tế Xô Viết, kinh tế quốc doanh là xã hội chủ nghĩa phải có và đã có địa vị thống trị trong nền kinh tế quốc dân. Ở nước ta kinh tế quốc doanh đã có địa vị thống trị này. Đi vào thời kỳ cải cách và đổi mới, Trung Quốc và Việt Nam chuyển địa vị của kinh tế quốc doanh từ thống trị xuống chủ thể (Trung Quốc) và chủ đạo (Việt Nam). Đến Đại hội VIII của Đảng, vai trò chủ đạo của quốc doanh đã thay đổi, Đảng ta đã xem kinh tế nhà nước mới có vai trò chủ đạo chứ không phải là quốc doanh. Đó là những thay đổi rất quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng ta.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước hiện được quan niệm là: ổn định, điều tiết, định hướng nền kinh tế. Để làm được vai trò này, nhà nước phải sử dụng các cộng cụ thể chế gồm luật pháp, hành pháp và tư pháp, các công cụ kinh tế gồm tiền tệ, tài chính, các xí nghiệp quốc doanh. Như vậy, các xí nghiệp quốc doanh chỉ là một trong các công cụ để nhà nước ổn định, điều tiết, định hướng nền kinh tế.

Tuy nhiên, khu vực kinh tế quốc doanh của nước ta mặc dù nắm giữ nhiều nguồn lực quốc gia rất lớn nhưng hầu như chưa phát huy hết hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và còn xảy ra những sai phạm.

Khu vực kinh tế quốc doanh chỉ nên tập trung vào những vị trí cần thiết như: cơ sở hạ tầng, dịch vụ công, công nghiệp quốc phòng, công nghệ cao... và điều quan trọng là khu vực này phải có nhiệm vụ hỗ trợ kinh tế tư nhân.

8. Về vấn đề sở hữu bất động sản bao gồm đất đai, nhà xưởng, nhà ở…

Trong các nguồn vốn của xã hội thì vốn chứa đựng trong các bất động sản là lớn nhất. Ở các nền kinh tế thị trường phát triển, các nguồn vốn bất động sản được lưu thông qua thị trường chứng khoán. Các nhà xưởng, xí nghiệp được cổ phần hoá và người ta có thể bán các cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán. Do vậy, nhà xưởng, xí nghiệp vẫn ở nguyên vị trí, nhưng giá trị của nó đã lưu chuyển hàng ngày qua tay hết chủ này đến chủ khác. Không có thị trường chứng khoán thì các nguồn vốn với tư cách là hàng hoá sẽ không có chỗ để bán, và do vậy vốn không lưu thông được, nó bị tồn đọng ở những ông chủ kém cỏi không biết làm ăn, và những người tài ba thì không sao kiếm được vốn. Ở nước ta, thị trường chứng khoán tuy đã có, nhưng còn kém phát triển. Một điều kiện quan trọng đối với sự phát triển kinh tế thị trường là các bất động sản phải được tự do lưu thông, tự do mua bán như các thứ hàng hóa khác. Ở nước ta, tuy đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng nhà nước đã giao cho dân 5 quyền, trong đó có quyền chuyển nhượng và thừa kế. Song trên thực tế, quyền chuyển nhượng đất đai chưa được thực hiện dễ dàng, mà hiện còn bị nhiều thủ tục phiền hà cản trở. Hơn nữa, chế độ hạn điền cũng đang ngăn cản sự lưu chuyển này vì thời hạn giao đất quá ngắn. Nếu đất đai không được chuyển nhượng và lưu thông tự do, mà phải được phân phối đồng đều và buộc mọi nông dân phải sử dụng chúng như hiện nay thì đó sẽ là một sự lãng phí to lớn. Trước hết là lãng phí về đất đai, vì đất đai không tập trung vào tay những người biết kinh doanh, mà lại rơi vào tay những người mà phần đông trong số đó lại không biết kinh doanh, hoặc kinh doanh yếu kém. Thứ hai là lãng phí về nhân lực, do mọi lao động đều buộc phải bám vào mảnh đất nhà nước, cho nên đã không tạo ra một sự phân công lao động theo sở trường và nhu cầu xã hội.

Thị trường đòi hỏi phải có sự lưu thông tự do và tích tụ cũng tự do. Lưu thông và tích tụ tự do để các nguồn lực có thể chuyển từ các ông chủ kinh doanh kém hiệu quả sang các ông chủ kinh doanh có hiệu quả hơn, và tạo ra một quy mô kinh doanh đất đai hợp lý. Mô hình trang trại là thích hợp cho sự lưu thông và tích tụ ruộng đất hiện nay và cũng là mô hình phát triển ở các nền kinh tế thị trường.

Nếu các trang trại ra đời thì ruộng đất sẽ tích tụ trong tay những người biết kinh doanh, còn những người nông dân đã nhượng quyền sử dụng ruộng đất của mình rồi có thể đi làm những nghề thích hợp với sở trường của họ. Một số người chuyên làm chăn nuôi, dịch vụ, xây dựng, đi làm tại khu công nghiệp… Việc làm là điều quan trọng nhất đối với người lao động chứ không phải là ruộng đất, không nên bắt mọi người lao động phải làm quản lý, vì quản lý là một nghề, không phải ai cũng làm được. Trong các vùng nông thôn nước ta, đã có không ít nông dân đã được cấp ruộng rồi lại bán, đi làm thuê. Để giải quyết việc làm cho nông dân, Nhà nước phải có những chính sách thích hợp. Trước hết, Nhà nước cần rà soát lại, bãi bỏ tất cả các thể chế trói buộc hạn chế quyền kinh doanh của nông dân. Mở rộng tín dụng cho nông dân vay phát triển ngành nghề. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của nông dân ở trong và ngoài nước. Phát triển mạng lưới đào tạo nghề nghiệp ở nông thôn và mở rộng dịch vụ xuất khẩu lao động.

Về vấn đề sở hữu tư bản tư nhân

Sở hữu tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân nói chung và sở hữu tư bản tư nhân nói riêng ở nước ta phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì khu vực này phải hoạt động theo pháp luật và các thể chế của nước ta (mà luật pháp và các thể chế của nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa), có đóng góp cho ngân sách nhà nước, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước và giải quyết các vấn đề xã hội… Ta không thể có lý do nào để xem khu vực sở hữu tư nhân đi ngược với định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong khu vực sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là hình thức sở hữu tiến bộ nhất, tiến bộ hơn hình thức tư hữu nhỏ manh mún, tiến bộ hơn cả hình thức sở hữu của tiểu chủ, càng tiến bộ hơn sở hữu cá thể của nông dân. Điều này đã được C.Mác, Ph.Ăngghen nói tới trong các tác phẩm. Chính hình thức sở hữu tư bản tư nhân mới thích hợp với lực lượng sản xuất của nền công nghiệp, mới thúc đẩy nền công nghiệp ấy phát triển. Tuy nhiên, những hạn chế của chế độ sở hữu tư bản tư nhân là rõ rệt, đó là bóc lột lao động làm thuê. Nhưng người ta lại không thể chỉ chấp nhận mặt tiến bộ của sở hữu tư bản tư nhân, mà phải chấp nhận cả mặt hạn chế của nó. Theo cách diễn đạt của C.Mác, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa phát triển tới mức độ cao nhất của nó là sở hữu cổ phần và sở hữu cổ phần là sự xoá bỏ chế độ tư hữu trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản và là điểm quá độ sang chế độ công hữu.

Như vậy, sở hữu tư bản tư nhân đã không chuyển sang chế độ công hữu bằng cách nhà nước hoá và hợp tác hoá, mà bằng cách cổ phần hoá, xem như đó là hình thức quá độ sang chế độ công hữu.

Vấn đề bóc lột lao động đã được C.Mác phê phán gay gắt và xem đó là tội lỗi ghê tởm nhất của chủ nghĩa tư bản. Xã hội ngày nay đã có những giải pháp hạn chế sự bóc lột lao động: Nhà nước quy định mức lương tối thiểu, đủ đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động; Đánh thuế thu nhập luỹ tiến, giảm bớt thu nhập của những người có thu nhập cao; Khuyến khích tích luỹ mở rộng sản xuất - không đánh thuế; Đánh thuế cao vào việc thừa kế các tài sản để tiêu dùng; Khích lệ việc lập các quỹ tư nhân phục vụ cho phúc lợi xã hội.

Những biện pháp trên đây, thực tế đã giảm bớt mức độ bóc lột lao động.