1. Chiết khấu giấy tờ có giá có phải hình thức tái cấp vốn không?

Theo quy định tại điểm b, Khoản 3, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chiết khấu được coi là một trong những hình thức cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại. Đồng thời, theo quy định của Khoản 19, Điều 14 của cùng Luật, chiết khấu được định nghĩa là hành động mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.

Theo quy định của Khoản 4 Điều 2 trong Thông tư 01/2012/TT-NHNN, việc chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là khi Ngân hàng này mua ngắn hạn các giấy tờ có giá với thời hạn thanh toán còn hiệu lực từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước ngày hết hạn thanh toán (được gọi tắt là chiết khấu).

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Điều 11, chi tiết về tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước, mô tả rõ các điều khoản liên quan, trong đó:

- Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng.

- Ngân hàng Nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây:

+ Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;

+ Chiết khấu giấy tờ có giá;

+ Các hình thức tái cấp vốn khác.

Do đó, có thể hiểu rằng chiết khấu giấy tờ có giá được xem xét là một trong những hình thức tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 

2. Loại giấy tờ có giá được chiết khấu đối với tổ chức tín dụng nước ngoài

Theo quy định của Điều 6 trong Thông tư 01/2012/TT-NHNN về việc chiết khấu giấy tờ có giá, các tiêu chuẩn được xác định như sau:

- Tiêu chuẩn về Giấy tờ có giá chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước:

+ Phải được phát hành trong đồng Việt Nam (VND);

+ Có quyền chuyển nhượng;

+ Phải thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài đề nghị chiết khấu;

+ Không là giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành và đề nghị chiết khấu;

+ Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là 91 ngày trong trường hợp chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá;

+ Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng Nhà nước chiết khấu đối với trường hợp chiết khấu có kỳ hạn.

- Danh mục Giấy tờ có giá được chiết khấu: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ quy định danh mục giấy tờ có giá được chiết khấu trong từng giai đoạn thời kỳ cụ thể.

Điều này nhấn mạnh các yêu cầu cụ thể về loại giấy tờ có giá được phép chiết khấu và các điều kiện áp dụng trong quá trình thực hiện chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước.

Theo quy định, giấy tờ có giá được chiết khấu đối với tổ chức tín dụng nước ngoài phải đáp ứng một số điều kiện cụ thể như sau:

(1) Phải đáp ứng tiêu chuẩn chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm:

   - Phải được phát hành bằng đồng Việt Nam (VND).

   - Được phép chuyển nhượng.

   - Phải thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đề nghị chiết khấu.

   - Không được phát hành là giấy tờ có giá từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đề nghị chiết khấu.

   - Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là 91 ngày đối với trường hợp chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá.

   - Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng Nhà nước chiết khấu đối với trường hợp chiết khấu có kỳ hạn.

(2) Giấy tờ phải thuộc danh mục được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ để được chiết khấu.

Theo quy định trong Điều 1, Khoản 1 của Quyết định số 11/QĐ-NHNN năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, danh sách các loại giấy tờ có giá được chiết khấu bao gồm:

- Tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước.

- Trái phiếu Chính phủ, bao gồm:

+ Tín phiếu Kho bạc;

+ Trái phiếu Kho bạc;

+ Trái phiếu công trình Trung ương;

+ Công trái xây dựng Tổ quốc.

+ Trái phiếu Chính phủ được chỉ định phát hành bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trước đây là Quỹ Hỗ trợ phát triển) dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

- Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, gồm:

+ Trái phiếu được phát hành bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc và lãi khi đến hạn.

+ Trái phiếu được phát hành bởi Ngân hàng Chính sách xã hội và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc và lãi khi đến hạn.

- Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành.

 

3. Điều kiện để chiết khấu giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng nước ngoài là gì?

Theo quy định của Điều 8 trong Thông tư 01/2012/TT-NHNN về điều kiện thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi tham gia nghiệp vụ chiết khấu cần tuân thủ đầy đủ các điều kiện sau:

- Phải là các tổ chức tín dụng không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

- Không được có nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước vào thời điểm đề nghị chiết khấu.

- Cần có tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng Nhà nước, bao gồm Sở Giao dịch hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được ủy quyền) để thực hiện quy trình chiết khấu.

- Phải có hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá và gửi Ngân hàng Nhà nước đúng hạn, theo quy định tại Khoản 3, Điều 9 của Thông tư này.

- Cần sở hữu giấy tờ có giá đủ điều kiện và thuộc danh mục được Ngân hàng Nhà nước quy định cho việc chiết khấu.

- Trong trường hợp giao dịch theo hình thức gián tiếp, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị tin học, đường truyền và kết nối với hệ thống máy chủ tại Ngân hàng Nhà nước, bao gồm Sở Giao dịch và Cục Công nghệ tin học.

Theo quy định, các tổ chức tín dụng nước ngoài tham gia nghiệp vụ chiết khấu phải tuân thủ đầy đủ 06 điều kiện sau đây:

(1) Phải là các tổ chức tín dụng không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

(2) Không được có nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước vào thời điểm đề nghị chiết khấu.

(3) Cần phải có tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng Nhà nước, bao gồm Sở Giao dịch hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được ủy quyền) để thực hiện quy trình chiết khấu.

(4) Phải có hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá và gửi Ngân hàng Nhà nước đúng hạn theo quy định tại Khoản 3, Điều 9 của Thông tư này.

(5) Cần sở hữu giấy tờ có giá đủ điều kiện và thuộc danh mục được Ngân hàng Nhà nước quy định cho việc chiết khấu.

(6) Trong trường hợp giao dịch theo hình thức gián tiếp, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị tin học, đường truyền và kết nối với hệ thống máy chủ tại Ngân hàng Nhà nước (bao gồm Sở Giao dịch và Cục Công nghệ tin học).

Bài viết liên quan: Chiết khấu giấy tờ có giá là gì? Quy định pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá? Bao thanh toán là gì? Quy định pháp luật về bao thanh toán?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Chiết khấu giấy tờ có giá có phải hình thức tái cấp vốn không? Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào về mặt pháp lý, Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!