NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Chính sách mang tính tích cực ủng hộ về bằng độc quyền sáng chế:
1.1 Tổng quát chung:
Trước hết, phải có một chính sách mang tính ủng hộ tích cực về bằng độc quyền sáng chế (PPP) mà về bản chất là liên quan đến phát triển kinh tế. Kinh nghiệm về chính sách bằng độc quyền sáng chế của Hàn Quốc và Sing-ga-po khẳng định tầm quan trọng của cách tiếp cận ủng hộ tích cực. Sự phối hợp giữa chính sách bằng độc quyền sáng chế và chính sách phát triển kinh tế là rất quan trọng, vì như đã được giới thiệu ở đầu nội dung này chính sách bằng độc quyền sáng chế vừa phản ánh vừa tác động đến sự phát triển của công nghệ và kinh doanh.
Phải có chiến lược cho việc sử dụng bằng độc quyền sáng chế và ppp trong vai trò một công cụ đác lực. Một cách tiếp cận phân tán đặt trọng tâm đồng đều vào tất cả các lĩnh vực phát triển ít có khả năng mang lại thành công. Việc hướng vào những lĩnh vực phát triển then chốt và kèm theo đó là một chính sách bổ sung về bằng độc quyền sáng chế dường như là một cách tiếp cận hợp lý. Vai trò đích thực của chính phủ là tạo ra động lực về tài chính, giáo dục, thuế và động lực khác để hỗ trợ phát triển trong những lĩnh vực mục tiêu này. Sự định hướng như vậy được thực hiện trong thế giới phát triển và khả năng áp dụng nó ở thế giới đang phát triển cũng không phải là thua kém. Với điều kiện các chính sách như vậy không phân biệt đối xử trong bảo hộ SHTT cho người nước ngoài và không vi phạm nguyên tắc "đối xử quốc gia" thì chúng không gặp phải sự phản đối về mặt pháp luật hay chính sách. Sự phát triển thích hợp mang lại kết quả tốt ở nhiều nước và được sử dụng để hỗ trợ cho sự tăng trưởng và ổn định. Với ý nghĩa này, bằng độc quyền sáng chế chỉ đơn giản là một sự phản ánh những ưu tiên và chiến lược phát triển kinh tế rộng lớn hơn.
1.2 Chức năng của bằng độc quyền sáng chế và sự cần thiết của chính sách ủng hộ:
Trong việc áp dụng bằng độc quyền sáng chế như một công cụ chiến lược, nội dung này đã gợi ý rằng hệ thống bằng độc quyền sáng chế có bốn chức năng quan trọng: (1) tạo điểu kiện cho việc chuyển giao công nghệ và đầu tư trực tiếp nước ngoài; (2) khuyến khích hoạt động nghiên cứu triển khai tại các trường đại học và trung tâm nghiên cứu; (3) làm chất xúc tác cho "công nghệ mới" và doanh nghiệp mới; và (4) mang lại động lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là SME, trong tích luỹ, quản lý và sử dụng SHTT Các chức năng này có thể thực hiện được bất kể có sự khác biệt về văn hoá, tôn giáo, hệ thống chính trị. và trình độ phát triển kinh tế, miễn là các doanh nghiệp được hỗ trợ bởi một loạt các chính sách của chính phủ về bằng độc quyền sáng chế mang tính ủng hộ tích cực được hoạch định và điều phối tốt.
Do hiện nay hầu hết các nước đang phát triển là những nhà nhập khẩu công nghệ và các nguồn tài chính cho đầu tư nên những nội dung thảo luận về vai trò của hệ thống bằng độc quyền sáng chế có xu hướng tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển giao công nghệ và FDI. Tuy nhiên, song song với những chính sách thúc đẩy FDI, những nhà hoạch định chính sách có thể ban hành những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tích luỹ, quản lý và sử dụng bằng độc quyền sáng chế. Loại chính sách đó có nhiều và bao gồm cả việc tạo động lực về tài chính và thuế cho hoạt động R&D cũng như cho việc cải tiến và nâng cao các công nghệ cũ và tri thức truyền thống. Sự phát triển này có thể diễn ra trong khuôn khổ liên doanh hoặc hợp đồng li-xăng với các công ty nước ngoài, cũng như trong khuôn khổ sự phát triển tại chỗ, bản địa.
2. Phát triển mang tính bản địa
Việc khuyến khích hoạt động R&D tại trường đại học và trung tâm nghiên cứu là một cách để khởi động quá trình phát triển ở trong nước nói trên đây. Ngược lại với việc nhập khẩu tri thức, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu cung cấp "nhiên liệu" để duy trì sự vận hành của chu trình đổi mới bản địa. Nếu được xử lý một cách đúng đắn, bằng độc quyền sáng chế là động lực mạnh mẽ cho hoạt động đổi mới, R&D, tạo ra sản phẩm và giao dịch kinh doanh mang tính bản địa (ngược lại với nhập khẩu) có lợi về mặt kinh tế vĩ mô và vi mô.
Cần phải thừa nhận rằng số lượng bằng độc quyền sáng chế có thể được tích luỹ trên cơ sở các hoạt động R&D được tiến hành tại các trường đại học và trung tâm nghiên cứu trong quá trình thực hiện những ưu tiên nghiên cứu bình thường của mình. Nói cách khác, việc thu hoạch tài sản trí tuệ hiện đang được tạo ra có thể có hiệu quả như việc khuyến khích sáng kiến công nghệ mới. Bằng độc quyền sáng chế được cấp cho những công nghệ tương đối đơn giản không đòi hỏi gánh nặng chi phí R&D, cũng như cho những công nghệ có chi phí R&D rất lớn. Có một số mới liên quan nhất định giữa đầu tư, thời gian, nguồn lực, chi phí và bằng độc quyền sáng chế được tạo ra nhưng đó không phải là mới tương quan trực tiếp và cố định, vấn đề then chốt là dù tiến hành bất kỳ hoạt động nào, liên quan đến nông nghiệp, công nghệ na-no, khử muối hay DNA tái hợp thì hoạt động đó cũng có thể được cải tiến bởi một ý tưởng mổi có giá trị thực tế. Tiềm năng tri thức để hiện thực hoá điều này còn phụ thuộc vào việc phổ biến thông tin và phát triển kỹ năng của con người.
Ngay cả với sự tiếp cận tối thiểu tới thông tin công nghệ và những nguồn nhân lực có kỹ năng cũng khởi động được một chu trình trí tuệ bền vững và tự sinh vì những sáng chế hữu ích thường từng bước bắt nguồn từ những gì đã qua và cũng có thể dựa trên tri thức truyền thống. Trên thực tế, một số đổi mới cơ bản nhất và vĩ đại nhất lại có được từ những công cụ tương đối đơn giản. Ngược lại, một khoản ngân sách R&D lớn không hề bảo đảm sự sáng tạo, đổi mới hoặc sự hữu ích trên thực tế. Thực vậy, một số công ty công nghệ có quan diểm cho rằng khả năng những công ty nhỏ hơn, mới thành lập tạo ra được những cách tiếp cận mang tính sáng tạo là lớn hơn so với những tổ chức lớn. Người ta chủ ý cắt nguồn đảm bảo cho các công ty đó để buộc chúng "chìm hoặc nổi" và khả năng tạo ra sáng chế của công ty mới thành lập là một cuộc sát hạch bơi có tính quyết định. Đồng thời, nhiều sáng chế ở các nước phát triển không phải là "công nghệ cao". Ví dụ, bằng độc quyền sáng chế về phương pháp kinh doanh thường không dựa trên công nghệ phức tạp. Việc rà soát cơ sở dữ liệu bằng độc quyền sáng chế sẽ nhanh chóng làm lộ ra những sáng chế dựa trên công nghệ tương đối đơn giản, cũng như những sáng chế dựa trên công nghệ phức tạp, đòi hỏi nhiều chi phí.
Việc sử dụng có hiệu quả cơ hội chuyển giao công nghệ và ứng dụng thông tin bằng độc quyền sáng chế về mọi khía cạnh mà thông tin đó có thể hữu ích là điều có ý nghĩa quan trọng. Chính sách công cộng để thúc đẩy việc sử dụng thông tin như vậy có thể mang lại kết quả về mặt chu trình sáng tạo và công nghệ mới. Như đă được thảo luận trong phần trên của nội dung này, cơ sở dữ liệu bằng độc quyền sáng chế có thể giúp các nước đang phát triển tìm kiếm những người cấp li-xăng công nghệ cần thiết, những người nhận li-xăng công nghệ đang được phát triển trong nước, những nhà đầu tư và đối tác kinh doanh.
Chính sách quốc gia và ppp cần được thiết kế để thúc đầy liên doanh li xăng bằng độc quyền sáng chế và liên minh chiến lược, vì chúng có thể khuyên khích hoạt động sáng chế trong nước cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài. Giao dịch tốt nhất là có lợi cho tất cả các bên, với sự bình dân tương đối về chi phí và lợi nhuận. Bên nhận li-xăng, thường là thuộc nước đang phát triển, có thể nhận được quyền sản xuất và phân phối sản phẩm hoặc công nghệ tại thị trường trong nước hoặc khu vực. Từ việc sản xuất và phân phối đó, bên nhận li-xăng không chỉ có thu nhập mà còn nhận được sự đào tạo cho nhân viên, những sản phẩm có giá trị và khả năng giá cả thấp vì tiến hành sản xuất ở trong nước. Li-xăng cũng có thể bao gồm quyền phối hợp với các trường đại học.
Việc khuyến khích những trung tâm li-xăng công nghệ và trung tâm quản lý SHTT nơi các nhà nghiên cứu và giáo sư có thể có được sự trợ giúp để phát triển nộp đơn yêu cầu bảo hộ và thương mại hoá các sáng chế của họ là điều cần thiết.
Việc sử dụng các khái niệm phát triển về mặt tổ chức (OD) để nâng cao hiệu quả và sự thân thiện của người sử dụng trong quản lý SHTT là điều có ích. Việc hợp nhất các cơ quan sở hữu công nghiệp và cơ quan quyền tác giả thành một cơ quan SHTT là đầu mới phối hợp với các bộ chịu trách nhiệm về phát triển kinh tế và giáo dục cũng có thể là một bước đi nên làm trong một số hoàn cảnh nhất định, về mặt thực tế, việc sử dụng bằng độc quyền sáng chế như một công cụ để phát triển kinh tế có thể xảy ra nếu có sự phối hợp về chính sách mang tính thể chế ở cấp cao giữa các bộ có ảnh hưởng đến chính sách về SHTT Cuối cùng, hệ thống luật pháp hữu hiệu về bằng độc quyền sáng chế, hạ tầng cơ sở công nghệ đầy đủ và sự bảo hộ cũng như thực thi đầy đủ về SHTT là các yếu tố cho phép hệ thống bằng độc quyền sáng chế vận hành tốt nhất. Thực thi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì nếu không có thực thi quyền SHTT thì hệ thống bằng độc quyền sáng chế không thể vận hành trên thực tế như hứa hẹn trong lý thuyết.
3. Kết luận:
Nội dung này đã trình bày tổng quan về những chức năng, giá trị và ảnh hưởng của hệ thống bằng độc quyền sáng chế trong thời đại đổi mới công nghệ nhanh chóng. Hệ thống bằng độc quyền sáng chế cần phải được thường xuyên điều chỉnh và thi hành sao cho đạt được sự cân bằng tốt nhất giữa lợi ích để tạo ra sự cần bằng tốt nhất giữa người có quyền, những người mới tham gia thị trường, công chúng nói chung và hiệp hội dân sự. Tiềm năng của hệ thống bằng độc quyền sáng chế đã được thừa nhận rộng rãi trong bối cảnh sáng tạo tri thức và sự đổi mới năng động.
Nội dung này đã mô tả cách thức mà hệ thống và sự phổ biến của hệ thống này kích thích phát triển như thế nào. Nội dung này cũng đã khám phá cách thức mà qua đó công nghệ mới có ảnh hưởng to lớn của đối với hệ thống bằng độc quyền sáng chế và lý do vì sao một số nước phản ứng một cách nhanh nhạy và ở tầm chiến lược đối với các thách thức do các công nghệ đó tạo ra, thông qua việc điều chỉnh thành công các chính sách và hệ thống bằng độc quyền sáng chế của họ. Hai lĩnh vực công nghệ môi quan trọng - công nghệ máy tính và truyền thông (bao gồm Internet) và công nghệ sinh học - đã được xem xét chi tiết để chỉ ra rằng các quyết định về chính sách bằng độc quyền sáng chế sẽ tiếp tục có ý nghĩa quyết định đến thành công của nền kinh tế lấy tri thức và công nghệ làm động lực trong thế kỷ 21. Sự bảo hộ quá mạnh đối với bằng độc quyền sáng chế dành cho những công nghệ mới có thể tác động bất lợi cho các nền kinh tế. Do đó, những nhà hoạch định chính sách sẽ phải cần nhắc và thi hành những chính sách tạo ra một sự cần bằng thông qua việc đưa ra những sự khuyến khích nhằm thúc đẩy hoạt động R&D, trong khi vẫn bảo đảm được một môi trường cạnh tranh cho những người đi tiên phong.
Cuối cùng, bằng độc quyền sáng chế là một công cụ đắc lực để sự phát triển kinh tế. Công cụ này có thể được sử dụng bởi các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển, các công ty đa quốc gia cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!