Trong lý thuyết về sở hữu trí tuệ, bằng độc quyền sáng chế được coi như một “ngai vàng” trao cho chủ sở hữu quyền khai thác và ngăn cấm người khác sử dụng thành quả sáng tạo của mình. Tuy nhiên, quyền lực này không phải là tuyệt đối và phải được cân bằng với lợi ích chung. Tại giao điểm giữa quyền lợi cá nhân và lợi ích cộng đồng, Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đóng vai trò quan trọng, cho phép Nhà nước áp dụng biện pháp hành chính cưỡng chế quyền sử dụng sáng chế trong những trường hợp cần thiết. Đây không phải là cơ chế tước đoạt quyền sở hữu, mà là công cụ pháp lý để điều chỉnh và giới hạn quyền độc quyền khi quyền này đi ngược lại lợi ích quốc gia hoặc cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội.
1. Quyền sử dụng sáng chế là gì?
Trước khi xem xét cơ chế “bắt buộc chuyển giao”, cần làm rõ nội hàm của khái niệm “quyền sử dụng” theo quy định pháp luật. Khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 (LSHTT) quy định, quyền sử dụng sáng chế không chỉ bao gồm việc sử dụng trực tiếp sản phẩm được bảo hộ, mà còn bao trọn các hành vi khai thác thương mại.Các hành vi này được chia thành năm nhóm chính, cụ thể:
- Thứ nhất, sản xuất, tức là tạo ra sản phẩm được bảo hộ, bao gồm các trường hợp như bào chế thuốc hoặc lắp ráp máy móc.
- Thứ hai, áp dụng, tức là thực hiện quy trình được bảo hộ, ví dụ như ứng dụng công nghệ mới vào xử lý chất thải hoặc sản xuất.
- Thứ ba, khai thác công dụng, tức là sử dụng và khai thác chức năng, tính năng của sản phẩm hoặc quy trình được bảo hộ trong thực tiễn.
- Thứ tư, lưu thông và quảng bá, bao gồm các hành vi lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ nhằm đưa sản phẩm ra thị trường.
- Thứ năm, nhập khẩu, tức là nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được tạo ra trực tiếp từ quy trình được bảo hộ vào Việt Nam.
Thông thường, năm nhóm quyền này thuộc quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế theo Điều 123 LSHTT. Cơ chế “bắt buộc chuyển giao” thực chất cho phép Nhà nước trao quyền cho một bên thứ ba thực hiện một hoặc nhiều hành vi nêu trên thường là sản xuất và nhập khẩu mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu, nhằm bảo đảm lợi ích công cộng, thúc đẩy phát triển kinh tế và hạn chế độc quyền tuyệt đối gây cản trở xã hội.
2. Quy định về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế như thế nào?
2.1. Chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Căn cứ khoản 1 Điều 145 LSHTT quy định: "Trong các trường hợp sau đây, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Luật này mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế:
a) Việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;
b) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế quy định tại khoản 1 Điều 136 và khoản 5 Điều 142 của Luật này sau khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế;
c) Người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thoả thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện thương mại thoả đáng;
d) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;
đ)Việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu về dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên."
Căn cứ Khoản 1 Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng sáng chế có thể được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu trong năm trường hợp.
Thứ nhất, khi việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội; trong trường hợp này, nguyên tắc “sự an nguy của người dân là trên hết” được đặt lên hàng đầu, cho phép cơ quan nhà nước can thiệp ngay mà không cần thương lượng với chủ sở hữu.
Thứ hai, khi chủ sở hữu không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 và Khoản 5 Điều 142, sau thời gian bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký và ba năm kể từ ngày cấp bằng độc quyền, nhằm chống lại việc đăng ký sáng chế chỉ để ngăn cản đối thủ cạnh tranh mà không khai thác thực tế; chủ sở hữu vẫn có quyền chứng minh trở ngại khách quan để ngăn chặn việc chuyển giao bắt buộc.
Thứ ba, khi người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thỏa thuận với chủ sở hữu về hợp đồng sử dụng mặc dù đã cố gắng thương lượng trong một thời gian hợp lý với mức giá và điều kiện thương mại hợp lý; trường hợp này nhằm giải quyết tắc nghẽn cơ chế thị trường thông qua can thiệp hành chính có quy trình rõ ràng gồm đề nghị hợp tác, chờ đợi hợp lý và bế tắc thương lượng.
Thứ tư, khi chủ sở hữu bị xác định thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo pháp luật về cạnh tranh, như găm hàng, bán kèm sản phẩm hoặc từ chối giao dịch để duy trì vị thế độc quyền; việc cấp quyền sử dụng bắt buộc nhằm xóa bỏ hậu quả hành vi hạn chế cạnh tranh, có thể nới lỏng một số giới hạn thông thường.
Cuối cùng, khi việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu dược phẩm phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cơ chế này cho phép các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và xuất khẩu thuốc theo đơn đặt hàng từ các nước có năng lực sản xuất hạn chế, với cơ chế đền bù tại nước nhập khẩu nhằm tránh đền bù hai lần. Mỗi trường hợp này được xem như một “cánh cửa” mở quyền sử dụng bắt buộc, vừa bảo vệ lợi ích công cộng, vừa cân bằng giữa quyền sở hữu tư nhân và nhu cầu xã hội.
2.2. Yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng của người nắm độc quyền sử dụng
Căn cứ khoản 2 Điều 145 LSHTT quy định: "Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ chuyển giao quy định tại khoản 1 Điều này không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện với điều kiện việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế."
Khoản 2 Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền phản hồi của chủ sở hữu sáng chế đối với các trường hợp chuyển giao quyền sử dụng bắt buộc. Cụ thể, khi căn cứ pháp lý để áp dụng việc chuyển giao quyền sử dụng theo Khoản 1 Điều 145 không còn tồn tại hoặc không có khả năng tái xuất hiện, chủ sở hữu có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng đối với bên nhận quyền. Quyền này được thực hiện với điều kiện việc chấm dứt không gây thiệt hại cho người được cấp quyền sử dụng sáng chế.
Quy định này vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, đồng thời đảm bảo sự cân bằng và an toàn pháp lý cho bên nhận quyền, tránh gây thiệt hại hoặc xáo trộn trong quá trình khai thác sáng chế.
3. Mối quan hệ với sáng chế phụ thuộc
Sáng chế phụ thuộc là khái niệm pháp lý chỉ tình huống một sáng chế cải tiến (Sáng chế A) không thể khai thác hoặc hoạt động độc lập nếu không sử dụng sáng chế cơ bản (Sáng chế B) đang được bảo hộ. Theo quy định tại Điều 137 LSHTT, trong trường hợp này, chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc A có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng cơ chế bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế B, nhằm đảm bảo sáng chế cải tiến có thể được khai thác hợp pháp.
Tuy nhiên, quyền yêu cầu này không phải tự động được công nhận; Sáng chế A phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt, bao gồm chứng minh rằng nó đại diện cho một “bước tiến kỹ thuật quan trọng” và có “ý nghĩa kinh tế lớn” so với sáng chế cơ bản B, tức là các cải tiến nhỏ hoặc mang tính thay đổi hạn chế sẽ không đủ điều kiện để yêu cầu bắt buộc chuyển giao.
Thêm vào đó, pháp luật còn thiết lập cơ chế li-xăng chéo, theo đó nếu chủ sở hữu sáng chế A được cấp quyền sử dụng sáng chế B, thì ngược lại, chủ sở hữu sáng chế B cũng có quyền yêu cầu cấp phép sử dụng sáng chế A. Cơ chế này vừa bảo đảm quyền khai thác công bằng cho các bên, vừa thúc đẩy sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong khuôn khổ pháp luật.
Kết luận
Điều 145 LSHTT quy định cơ chế bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế nhằm bảo đảm lợi ích công cộng, an ninh, y tế, phòng bệnh, và xử lý các trường hợp chủ sở hữu không khai thác sáng chế, thất bại trong thương lượng, hoặc vi phạm cạnh tranh. Đồng thời, chủ sở hữu vẫn có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ pháp lý không còn, với điều kiện không gây thiệt hại cho bên nhận quyền. Cơ chế này vừa thúc đẩy khai thác sáng chế hiệu quả, vừa cân bằng quyền lợi giữa chủ sở hữu và xã hội.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.