1. Nguồn gốc quân chủ lập hiến

Chế độ quân chủ lập hiến tìm thấy các nguyên tắc của nó trong các nhà tư tưởng thế kỷ thứ mười bảy và mười tám, những người ủng hộ sự phân chia quyền lực và cải cách chính trị của các nước châu Âu.

Trong những thế kỷ này, hai sự kiện lịch sử cơ bản đã diễn ra mang theo một loạt các thay đổi về văn hóa và tinh thần tạo điều kiện cho việc thực hiện hệ thống chính quyền này: Cách mạng khoa học và Khai sáng hoặc Khai sáng. Các nhà tư tưởng của phong trào văn hóa này đã bảo vệ một loạt các ý tưởng đã được phản ánh trong ấn phẩm Bách khoa toàn thư của Diderot và D'Alambert vào cuối thế kỷ 18.

Trong số những ý tưởng được công bố trong công trình vĩ đại của Khai sáng có thể cảm nhận được tinh thần tiến bộ và cải cách có những nhà tư tưởng này.

Trong các trang của bách khoa toàn thư, nơi thu thập tất cả kiến ​​thức về thời gian, một tinh thần yêu thích khoa học, tiến bộ và khoan dung được thể hiện. Để đạt được tiến bộ này, cần phải đặt tôn giáo sang một bên để đáp ứng với tất cả các vấn đề phổ quát.

các chế độ quân chủ lập hiến đó là một hệ thống chính trị, trong đó Quốc vương là Nguyên thủ quốc gia, nhưng quyền lực của ông không tuyệt đối, nhưng bị giới hạn bởi một hiến pháp bao gồm một loạt các quyền.

Sau khi bỏ qua các lý thuyết vô thần, mục tiêu cuối cùng trở thành hạnh phúc của con người và do đó, xã hội. Dần dần, những suy nghĩ lý thuyết này được chuyển thành những cải cách chính trị thực sự.

Chúng ta phải nhớ rằng sự biện minh của chế độ quân chủ tuyệt đối là Thiên Chúa, người đã trao quyền lực cho nhân vật của Nhà vua. Với sự mất tầm quan trọng của tôn giáo và Giáo hội, hệ thống chính trị này dần mất đi ý nghĩa của nó.

Chế độ chuyên chế giác ngộ là một hệ thống chính trị mới, được một số nhà tư tưởng cải cách chấp nhận vì nó cho phép sự tiến bộ của xã hội. Tất cả các quyền lực vẫn còn trong quốc vương, nhưng điều này tạo ra một loạt các nhượng bộ cho người dân thường và hạn chế quyền lực của các quý tộc và giáo sĩ. Phương châm của hệ thống này là "tất cả vì người dân nhưng không có người dân".

Quá trình thay đổi các chế độ quân chủ trên thế giới diễn ra chậm chạp, bởi vì vào thế kỷ XVII, Louis XIV, một trong những vị vua tuyệt đối nổi tiếng nhất trong lịch sử, tiếp tục chứng tỏ quyền lực lộng lẫy của mình trên ngai vàng nước Pháp.

>> Xem thêm:  Quyền tư pháp là gì ? Quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Quay trở lại với các nhà tư tưởng thời đó, có hai điều có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển của chế độ quân chủ lập hiến ở châu Âu và chấm dứt chế độ cũ một lần. Những trí thức này là John Locke và Nam tước de Montesquieu.

2. Quân chủ lập hiến

Theo từ điển bách khoa toàn thư, Quân chủ lập hiến hay quân chủ đại nghị là một hình thức tổ chức nhà nước giữ nguyên vai trò của vua hay quốc vương từ thời phong kiến nhưng vị quân vương không nắm thực quyền, mà quyền lực chủ yếu thuộc quốc hội do đảng phái chiếm đa số ghế lãnh đạo; đảng này cũng có quyền tự chấp chính, hoặc liên minh với đảng khác để thành lập Chính phủ. Thủ tướng thường là thuộc đảng chiếm đa số. Trong các nhà nước theo chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của quốc gia phần thuộc vị quân vương, được coi là quốc trưởng, phần thuộc một cơ quan khác, khi là nghị viện hay hội đồng đại biểu. Cuộc bầu cử có thể là đầu phiếu phổ thông hay hạn chế cho một vài giai cấp quý tộc.

Trong chính thể quân chủ lập hiến, nhà vua hay nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia, nhưng về quyền lực thì chỉ mang tính chất tượng trưng, đại diện cho truyền thống dòng tộc và sự thống nhất của quốc gia. Tiếng Anh có câu là "nhà vua trị vì nhưng không cai trị". Chế độ quân chủ lập hiến là sự thích ứng của các vương triều đối với làn sóng dân chủ lan rộng trên thế giới sau Cách mạng Pháp. Các vương triều chấp nhận từ bỏ các quyền lực chính trị và tuân thủ hiến pháp để bảo toàn sự tồn tại; giữ lại các tước hiệu, tài sản, lợi ích kinh tế và danh dự hoàng gia.

Chính thể quân chủ lập hiến theo mô hình đại nghị còn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới hiện nay như Nhật Bản, Anh Quốc, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Úc, Campuchia, Thái Lan, Tây Ban Nha, Na Uy... phần nhiều do nguyên nhân lịch sử.

3. Chính thể quân chủ lập hiến

Chính thể quân chủ lập hiến là hình thức nhà nước, trong đó người đứng đầu nhà nước được thiết lập theo nguyên tắc kể truyền Với quyền lực chỉ có tính chất tượng trưng.

Chính thể quân chủ lập hiến là một trong những hình thức nhà nước phổ biến của các nước tư sản và các nước đang phát triển. Đặc điểm của các nước có chính thể quân chủ lập hiến là nguyên thủ quốc gia được thiết lập theo nguyên tắc kế truyền nhưng quyền lực của nhà vua chỉ có tính chất tượng trưng, thường chỉ có chức năng lễ tân và ngoại giao, vì vậy thường có cách nói: "vua trị vì mà không cai trị”. Trong các nước quân chủ lập hiến, quyền lực thực sự nằm trong tay thủ tướng, vì thủ tướng thường là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong nghị viện và vì vậy, chính phủ có chỗ dựa vững chắc trong nghị viện.

>> Xem thêm:  Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền là gì ?

Chính thể quân chủ lập hiến đang tồn tại ở một số nhà nước tư sản như Anh, Thụy Điển, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan và một số nhà nước khác như Thái Lan, Malaixia, Cămpuchia...

4. Các nước theo chính thể quân chủ lập hiến ngày nay

Ngày nay, vẫn có những quốc gia tiếp tục duy trì chế độ quân chủ lập hiến, mà không trở thành nghị viện. Ở các quốc gia này, nhân vật của Nhà vua đang hoạt động và có quyền lực chính trị, nó không phải là một đại diện mang tính biểu tượng như xảy ra ở Tây Ban Nha với Philip VI hoặc ở các nước châu Âu khác như Bỉ, Đan Mạch hoặc Anh.

Các quốc gia có chế độ quân chủ lập hiến, theo một danh sách được lập bởi trang web Wikipedia bao gồm những vương quốc sau:

  • Vương quốc Bahrain (Châu Á). Vua: Hamad bin Isa Al Khalifa.
  • Vương quốc Bhutan (Châu Á). Vua: Jigme Khessar Namgyal Wangchuck.
  • Vương quốc Hashemite của Jordan (Châu Á). Vua: Abdullah II.
  • Nhà nước Kuwait (Châu Á). Tiểu vương quốc: Sabah Al-Ahmad Al-Yaber Al-Sabah.
  • Công quốc Liechtenstein (Châu Âu). Hoàng tử: Luis xứ Liechtenstein.
  • Công quốc Monaco (Châu Âu). Hoàng tử: Albert II của Monaco.
  • Vương quốc Morocco (Châu Phi). Vua: Mohamed VI.
  • Vương quốc Tonga (Châu Đại Dương). Vua: Tupou VI.

5. Chế độ quân chủ lập hiến ở Vương quốc anh

Chế độ quân chủ lập hiến là một hình thức chính phủ trong đó quân chủ - thường là vua hoặc nữ hoàng - đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia theo các tiêu chuẩn của hiến pháp thành văn hoặc bất thành văn.

Trong chế độ quân chủ lập hiến, quyền lực chính trị được chia sẻ giữa quân chủ và một chính phủ được tổ chức hợp hiến như nghị viện .

Chế độ quân chủ lập hiến đối lập với chế độ quân chủ tuyệt đối, trong đó quân chủ nắm mọi quyền lực đối với chính phủ và nhân dân. Cùng với Vương quốc Anh , một số ví dụ về chế độ quân chủ lập hiến hiện đại bao gồm Canada, Thụy Điển và Nhật Bản.

>> Xem thêm:  Lập hiến là gì ? Quy định pháp luật về lập hiến

Chế độ quân chủ Vương quốc Liên hiệp, thường được gọi chế độ quân chủ Anh là chế độ quân chủ lập hiến của Vương quốc Liên hiệp và Lãnh thổ hải ngoại. Các quân vương còn được gọi là "Vua" và "Nữ vương". Quân vương hiện nay là Nữ vương Elizabeth II, người nối ngôi và con của Vua George VI vào ngày 06 tháng 2 năm 1952.

Quân vương và vương thất đảm nhận nhiều nghi thức khác nhau, nghi lễ, ngoại giao và tượng trưng sự tôn kính. Như chế độ quân chủ lập hiến, quân vương có chức năng phi đảng phái, trao tặng huân huy chương và bổ nhiệm Thủ tướng. Quân vương theo truyền thống là Tổng Tư lệnh quân đội Vương thất Anh. Cho dù quyền hành pháp chính thức tối cao của chính phủ Anh nhưng vẫn thường và phải qua đặc quyền của quân vương, quyền hạn này có thể chỉ sử dụng theo định luật ban hành bởi Quốc hội và trên thực tế trong phạm vi của quy ước và chuẩn mực.

Chế độ quân chủ Anh có nguồn gốc từ những vương quốc nhỏ Scotland và Anglo-Saxon, trong đó hợp thành vương quốc Anh và Scotland trong thế kỷ X. Năm 1066 quân vương cuối cùng của Anglo-Saxon Harold đã bị giết chết trong cuộc chinh chiến người Norman, người Norman đã chiến thắng và lãnh đạo người Norman William Nhà chinh phạt trở thành quân vương Anh.

Trong thế kỷ XIII, xứ Wales một công quốc trở thành nhà nước trực thuộc của Vương quốc Anh, với Đại Hiến chương bắt đầu quá trình giảm quyền lực chính trị của vua Anh.

Từ năm 1603, khi vua Scotland Vua James VI thừa kế ngai vàng Anh như James I, cả vương quốc Anh và vương quốc Scotland đã được cai trị bởi một quân vương duy nhất. Từ 1649-1660, các truyền thống của chế độ quân chủ đã bị phá vỡ bởi chính quyền cộng hòa Liên bang Anh, dẫn tới cuộc chiến của 3 vương quốc. Đạo luật kế thừa 1701 hiện vẫn còn hiệu lực, loại trừ sự kế vị với người theo Công giáo La mã, hoặc người kết hôn với người Công giáo La mã. Năm 1707 Scotland và Vương quốc Anh hợp nhất thành Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain), và tới năm 1801 Vương quốc Ireland sáp nhập vào hình thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Các quân vương Anh trở thành người đứng đầu trên danh nghĩa Đế quốc Anh, và cực thịnh năm 1921.

Trong những năm 1920 5/6 của Ireland ly khai khỏi Liên hiệp hình thành Nhà nước tự do Irish, và với Tuyên bố Balfour 1926 tuyên bố các quốc gia tự trị là "các cộng đồng tự trị trong Đế quốc Anh, bình đẳng về vị thế, chẳng bằng cách nào một bên phải lệ thuộc bên khác" trong một "Thịnh vượng chung của các Quốc gia Anh". Sau khi kết thúc thế chiến 2, hầu hết các thuộc địa Anh độc lập, kết thúc thời kỳ đế quốc của Anh. George VI và người kế vị ông, Nữ vương Elizabeth II, được thông qua là người đứng đầu của khối thịnh vượng chung như biểu tượng tự do và liên kết với các quốc gia độc lập..

Vương quốc Anh và 15 chủ thể trong khối thịnh vương đều có một quân vương chung, được gọi là Vương quốc Khối thịnh vượng chung. Thuật ngữ quân chủ Anh và quân vương Anh thường vẫn được sử dụng trong các tài liệu tham khảo cho cá nhân và tổ chức; Tuy nhiên mỗi quốc gia có chủ quyền và độc lập khác nhau, và quân vương khác nhau, cụ thể tại mỗi quốc gia danh hiệu và tước hiệu của quân vương có thể gọi khác nhau.

Trong quy định của Hiến pháp Anh, quân vương (được gọi là Bậc Tối cao hoặc "Bệ hạ") là nguyên thủ quốc gia. Các thành viên chính phủ buộc phải trung thành với Nữ vương và người kế thừa hợp pháp. God Save the Queen/King (Chúa bảo vệ Nữ vương/Quốc vương) là quốc ca của Anh và chân dung một bên của quân vương xuất hiện trên tem bưu chính, tiền xu và tiền giấy.

Quân vương ít tham gia trực tiếp vào Chính phủ, quyết định thi hành tối cao được trao cho quân vương, bởi các đạo luật và quy ước, tới Thủ tướng hoặc văn phòng Nội các, hoặc các cơ quan công cộng, đặc quyền cá nhân của quân vương. Do đó biện pháp can thiệp nhà nước nhân danh Ngôi vua và kế vị ngôi vua dù là cá nhân thực hiện bởi quân vương, như tiếng nói Nữ vương và khai mạc Nghị viện, phụ thuộc vào mỗi cơ quan khác nhau:

+ Quyền lập pháp là sự thi hành Nữ vương trong Quốc hội, bởi và với sự tư vấn và chấp thuận của Quốc hội, Viện Thứ dân và Viện Quý tộc.

+ Quyền hành pháp là sự thực thi cai trị của Nữ vương, bao gồm các Bộ trưởng chủ yếu là Thủ tướng và Nội các, về mặt kỹ thuật là Ủy ban của Hội đồng Cơ mật. Điều khiển các lực lượng vũ trang của Ngôi vương, ngành dân sự và công chức Ngôi vương, như ngoại giao và ngành bí mật (Nữ vương chắc chắn nhận báo cáo tình báo nước ngoài trước Thủ tướng).

+ Quyền tư pháp được trao cho ngành tư pháp theo hiến định và pháp luật, độc lập với chính phủ.

+ Giáo hội Anh, quân vương là người đứng đầu, có cấu trúc lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập riêng.

+ Quyền hạn độc lập với chính phủ hợp pháp được cấp khác các cơ quan công quyền bởi luật hoặc văn kiện theo luật định như là Nội quy trong Hội đồng, Uỷ ban Vương thất hoặc mặt khác.

Vai trò quốc vương của nền quân chủ lập hiến có chức năng và nhiệm vụ phi đảng phái, chẳng hạn như trao huân huy chương. Nhà văn Walter Bagehot đã xác nhận chế độ quân chủ lập hiến năm 1867 mang tính chất "danh dự" hơn là "khả năng" cai trị.

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Chính thể là gì ? Khái niệm về chính thể

Câu hỏi thường gặp về chính thể quân chủ lập hiến ?

Câu hỏi: Quân chủ chuyên chế được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Theo từ điển bách khoa toàn thư, Quân chủ lập hiến hay quân chủ đại nghị là một hình thức tổ chức nhà nước giữ nguyên vai trò của vua hay quốc vương từ thời phong kiến nhưng vị quân vương không nắm thực quyền, mà quyền lực chủ yếu thuộc quốc hội do đảng phái chiếm đa số ghế lãnh đạo; đảng này cũng có quyền tự chấp chính, hoặc liên minh với đảng khác để thành lập Chính phủ. Thủ tướng thường là thuộc đảng chiếm đa số. Trong các nhà nước theo chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của quốc gia phần thuộc vị quân vương, được coi là quốc trưởng, phần thuộc một cơ quan khác, khi là nghị viện hay hội đồng đại biểu. Cuộc bầu cử có thể là đầu phiếu phổ thông hay hạn chế cho một vài giai cấp quý tộc.

Câu hỏi: Chính thế quân chủ lập hiến là gì?

Trả lời:

Chính thể quân chủ lập hiến là một trong những hình thức nhà nước phổ biến của các nước tư sản và các nước đang phát triển. Đặc điểm của các nước có chính thể quân chủ lập hiến là nguyên thủ quốc gia được thiết lập theo nguyên tắc kế truyền nhưng quyền lực của nhà vua chỉ có tính chất tượng trưng, thường chỉ có chức năng lễ tân và ngoại giao, vì vậy thường có cách nói: "vua trị vì mà không cai trị”. Trong các nước quân chủ lập hiến, quyền lực thực sự nằm trong tay thủ tướng, vì thủ tướng thường là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong nghị viện và vì vậy, chính phủ có chỗ dựa vững chắc trong nghị viện.

Câu hỏi: Các nước theo chính thể quân chủ lập hiến ngày nay bao gồm những nước nào?

Trả lời:

Ngày nay, vẫn có những quốc gia tiếp tục duy trì chế độ quân chủ lập hiến, mà không trở thành nghị viện. Ở các quốc gia này, nhân vật của Nhà vua đang hoạt động và có quyền lực chính trị, nó không phải là một đại diện mang tính biểu tượng như xảy ra ở Tây Ban Nha với Philip VI hoặc ở các nước châu Âu khác như Bỉ, Đan Mạch hoặc Anh.