1. Cho vay tiền nhưng không có giấy tờ có đòi được không ?

Thưa quý luật sư, xin hỏi: Hai vợ chồng Trang và những người thân trong gia đình bị chính người em ruột của Trang nhiều lần dối lừa mượn tiền để kinh doanh nhưng thực tế chỉ để ăn xài. Số tiền lên đến 400 triệu. Kính mong quý luật sư giúp đỡ với số tiền nợ mà em Trang đã gây ra nhưng không hề muốn đi làm để trả nợ, chây ì không thiện chí xem như không hề có chuyện gì.
Luật sư có cách nào để pháp luật can thiệp răn đe? Chứ không thể nào để em Trang tự do sống nhỡn nhơ để mặc cho người thân của mình gánh gồng nợ như thế ?
Mong tin luật sư. Xin chân thành cảm ơn rất nhiều!
Minh Trang (mrs)

Trả lời:

Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Trong các trường hợp trên, các giao dịch đều diễn ra giữa những người có quen biết, thân quen, vì thế khi tiến hành giao dịch rất tin tưởng lẫn nhau, nhưng một bên còn lại đã lợi dụng sự quen biết đó để chây ỳ, trốn thực hiện nghĩa vụ. Theo quy định của pháp luật, sẽ có 02 con đường để có thể đòi lại được số tiền này, cụ thể như sau:

TH1: Theo như quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự 2015 thì:

Điều 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Như vậy, bên còn lại đã vi phạm pháp luật dân sự vì không thực hiên nghĩa vụ của mình theo như hợp đồng, cụ thể :

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Điều 517. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thoả thuận khác.

2. Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ.

3. Bảo quản và phải giao lại cho bên sử dụng dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc.

4. Báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc.

5. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

6. Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin.

Theo phương án này, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

" Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Khi cơ quan Tòa án tiến hành điều tra, bạn phải đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh thông tin mình cung cấp là đúng.

TH2. Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 các đối tượng trên có thể bị truy tố về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Số tiền cho vay trong các trường hợp trên đều lớn hơn 2tr đồng, vì thế, đủ để cấu thành nên tội.


Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Sau khi xử lí về hình sự, tòa án sẽ giải quyết yêu cầu về mặt dân sự cho bạn.

>> Xem thêm:  Tỷ lệ hoa hồng (%) được hưởng do hoạt động môi giới bán hàng hóa ? Tranh chấp hợp đồng môi giới

2. Tư vấn khởi kiện đòi lại tiền cho vay bị con nợ trốn?

Kính gởi Luật sư! Anh tôi có cho người trong xóm vay: 100 triệu đồng, lãi xuất: 0,2% tháng (thoả thuận) để "kinh doanh" có làm biên nhận nợ. Chưa đầy một tháng người vay tiền đã bỏ xứ (quê) trốn khỏi địa phương, người vay (chồng) đứng tên vay (trong biên nhận nợ, vợ không có đứng tên). Chồng, vợ cùng trốn khỏi địa phương nên anh tôi khi thưa lên Toà án Huyện, xuống mời bị can lên giải quyết không được đã trả hồ sơ lại.
Xin Luật sư tư vấn trong trường hợp này, phải làm đơn thưa ở cơ quan nào, mẫu đơn ra sao?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 các đối tượng trên có thể bị truy tố về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

Người đã vay của anh bạn số tiền là 100.000.000 đồng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú và không tìm thấy tung tích. Trường hợp này có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 140 BLHS theo đó người này có được số tiền trên thông qua một giao dịch dân sự đó là vay tài sản và có hành vi không trả lại số tiền trên bằng cách bỏ trốn. Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực hình sự.

Anh nên đưa vụ việc đến trình báo cơ quan công an nơi anh cư trú để họ xem xét có dấu hiệu cấu thành tội phạm để tiến hành khởi tố hay không.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

3. Kê khai hóa đơn đầu vào của công ty đã tạm dừng hoạt động để vay vốn có vi phạm không ?

Xin chào luật sư !Tôi có một vấn đề xin được tư vấn như sau: Trong năm 2015 tôi có vay của ngân hàng VP số tiền là 9.5 tỷ đồng thế chấp bằng 02 tài sản đứng tên tôi và chồng. Hiện tại khoản nợ đó đang nằm trong tình trạng nợ quá hạn do công ty tôi làm ăn thua lỗ.

Tôi có đề xuất chuyển sang khoản vay dài hạn để tôi có thể trả được nợ nhưng ngân hàng VP không đồng ý. Hiện tại ngân hàng VP đang tìm mọi cách thu hồi khoản nợ đó. Tôi đồng ý là tôi sẽ bán tài sản để trả nợ cho ngân hàng.

Tôi nhờ Luật sư tư vấn đề sau:

Khi giải ngân ra số tiền 9.5 tỷ theo phê duyệt cho vay ra của ngân hàng VP do tôi ko biết nên sử dụng hóa đơn đầu vào của công ty A để giải ngân số tiền 9.5 tỷ . Thời điểm Công ty A xuất hóa đơn cho công ty tôi thì công ty A đã dừng hoạt động (việc này sau này tôi mới biết do bên ngân hàng thông báo do họ kiểm tra trên hệ thống). Tôi nghĩ chỉ là hồ sơ giải ngân cho số tiền đó, nên khi đó tôi không kê khai thuế GTGT đầu vào cho hóa đơn trên, khi ngân hàng đóng dấu đã cho vay vào chứng từ thì tôi đã không lưu lại hóa đơn đó tại công ty mình. Hiện nay ngân hàng VP đang căn cứ vào lý do này để gây sức ép cho tôi và nói sẽ trình báo việc này với cơ quan công an để đưa vụ việc đó vào khung hình sự.

Vậy tôi xin hỏi luật sư :

1. Lỗi của tôi vi phạm của tôi trong việc này như thế nào ? Hình phạt như thế nào ?

2. Lỗi vi phạm của công ty A trong việc này là như thế nào ? Hình phạt như thế nào ?

Rất mong Luật sư có câu trả lời sớm giúp doanh nghiệp. Tôi trân trọng cám ơn !

Kê khai hóa đơn đầu vào của công ty đã tạm dừng hoạt động để vay vốn có vi phạm không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

* Lỗi của bạn trong trường hợp này:

Theo quy định tại Điều 5, Thông tư 09/2012/TT-NHNN quy định việc sử dụng các phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng:

"Điều 5. Trách nhiệm của khách hàng vay

Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm cung cấp các thông tin, tài liệu, chứng từ thanh toán theo quy định của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để phục vụ cho việc xem xét quyết định sử dụng các phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay theo quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật liên quan; khách hàng vay chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các thông tin, tài liệu và chứng từ cung cấp cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài."

Như vậy, bạn có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn, cụ thể là việc công ty A đã ngừng hoạt động khi bạn sử dụng hóa đơn đầu vào của công ty A để giải ngân 9.5 tỷ đồng và bạn chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp cho ngân hàng;

Đồng thời, với việc bạn không kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào cho hóa đơn thì tại Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tôi trốn thuế:

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Theo đó, tùy theo mức độ nghiêm trọng và số tiền trốn thuế mà bạn có thể bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế
* Lỗi của công ty A

Theo quy định tại Điều 200, Luật doanh nghiệp năm 2014:

"Điều 200. Tạm ngừng kinh doanh

1. Doanh nghiệp có quyền tạm ngừng kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 15 ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh. Quy định này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo.

2. Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện khi phát hiện doanh nghiệp không có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế còn nợ; tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với khách hàng và người lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp, chủ nợ, khách hàng và người lao động có thỏa thuận khác."

Như vậy, công ty A đã tạm ngừng hoạt động nên trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh công ty A sẽ không được phép thực hiện bất kì một giao dịch mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nào khác, không được xuất hóa đơn.

Nếu công ty A muốn thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ hay xuất hóa đơn cho công ty bạn thì công ty A phải làm thủ tục gửi lên Sở kế hoạch và đầu tư để xin hoạt động trước thời hạn, đồng thời có văn bản gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Nếu công ty A không thực hiện các thủ tục này thì hóa đơn công ty A xuất sẽ là bất hợp pháp. Công ty A sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

4. Hết thời hạn vay không trả nợ xử lý thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi đã bị lừa số tiền 224.700.000 đồng ,(người lừa tôi tên Dũng) vào tháng 4/2015. Tôi đã làm đơn tố cáo gửi lên công an phường Linh Xuân, quận Thủ Đức .Công an phường đã xác minh và chuẩn bị hồ sơ gửi lên Quận thì mẹ của kẻ lừa tiền tôi ( bà Anh) đã viết giấy cam kết thay mặt trả số nợ đó cho tôi trong vòng 3 tháng ( từ 20/4/2015 đến 20/7/2015) , nên tôi đã rút đơn kiện về.
Khi rút đơn kiện công an phường đã buộc tôi viết 1 tờ giấy cam kết là sau này không được khởi kiện lại vụ án lừa đảo của tên D nữa. HIện tại đã hết thời gian 3 tháng nhưng bà Anh không chịu trả tiền, tôi đã lên phường hỏi lại nhưng được hướng dẫn đưa đơn ra tòa để khởi kiện án dân sự đối với bà A.Tôi muốn hỏi luật sư là trường hợp của tôi như vậy thì có thể kiện tiếp tục hành vi lừa đảo của Tên D ra cơ quan công an Quận được nữa hay không, đồng thời có thể đưa đơn tại tòa án về việc bà A không chịu trả nợ cho tôi được không, và mức án của 2 người đó sẽ như thế nào?
Mong luật sư có thể giải đáp giúp tôi, tôi xin cảm ơn.
Người gửi: V.T

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì bạn đã có đơn bãi nại cho phía bên người vay tiền của bạn, hiện tại bạn lại muốn khởi kiện người đã vay tiền của mình do họ không có thiện chí trả nợ cho bạn.

Theo Điều 174 BLHS sẽ vẫn bị truy tố mặc dù có đơn bãi nại của bạn. Do đó, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện lại vụ án để được giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng. Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về khung hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

Theo đó, với số tiền chiếm đoạt của bạn là 224.700.000 đồng thì anh D sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 3 Điều 139 với khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm.

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

5. Vay vốn ngân hàng qua người quen và hậu quả pháp lý?

Chào Luật Sư! Em muốn nhờ luật sư tư vấn giúp trường hợp sau: Vào khoảng tháng 10/2014 em có bắt gặp 1 tờ rơi v/v vay vốn tín chấp ngân hàng VPbank. Em liên hệ để gửi hồ sơ đăng kí vay vốn thì anh nhân viên đó kiểm tra em nằm trong nợ xấu nhóm 2 nên ngân hàng tại thời điểm này chưa thể hỗ trợ được.
Hồ sơ em không được giải ngân vì lý do trên. Sau vài ngày anh này gọi lại em tư xưng là bên công ty thứ 3 có hỗ trợ được cho em bằng hình thức " vay dịch vụ" (anh này báo là sẽ bảo lãnh cho em được vay vốn). Anh ta hẹn gặp em và nói là em phải chịu phí DV 15% ( Vay 100 triệu em phải trả phí DV 15 triệu). Do cần tiền nên em đã chấp nhận. Hai bên thoản thuận xong, số tiền em định vay là 100 triệu. Anh này yêu cầu em gửi trước cọc là 5 triệu, 10 triệu còn lại sẽ thanh toán khi được giải ngân. Anh này có làm cho em 1 tờ giấy viết tay ghi thông tin hợp đồng vay dịch vụ có cả bên A và bên B. Thông tin anh này ghi mập mờ. Em chỉ có tên và số chứng minh của anh ta thôi ( chính xác). Còn riêng địa chỉ anh này cung cấp thì em tìm không được vì không có tên đường cụ thể (49/9 KP4 P.Tân Kiểng Quận 7). Sau khi các bên ký thì mỗi người giữ 1 bản. Có cả chữ ký sống của anh ấy. Anh ấy có nói là thời gian 2 tuần sẽ có kết quả, thông tin này không thể hiện trên hợp đồng thỏa thuận. Nhưng sau thời gian đó em liên lạc lại anh này không hề nghe máy và cũng không hề báo cho em biết thông tin là như thế nào. Em quá hoang mang...!! Từ 10/2014 đến nay (gần 9 tháng) là thời gian quá lâu em không nhận được kết quả từ anh này.
Vậy cho em hỏi giờ em phải làm sao? Có tố cáo anh này về tội lừa đảo và chiếm đoạt tài sản được không ạ? Nếu được thì em phải tố cáo ở đâu? Ai là người giải quyết cho em? (Hiện tại bản hợp đồng chính này em đã mất, nhưng vẫn còn bản photo thì có thể kiện được không ạ?).
Mong luật sư giúp đỡ. Em chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Theo quy định trên thì người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản và thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Khoản 1 Điều 175 BLHS quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Theo quy định này thì hành vi khách quan của tội phạm này có những điểm chú ý sau:

- Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.

- Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản ) thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó (tài sản nhận từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp) vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, để xác định người bảo lãnh cho bạn vay vốn (A) phạm tội gì thì bạn sẽ phải căn cứ vào các phân tích trên và áp dụng vào trường hợp của bạn thì mới có thể xem xét một cách chính xác được.
Trong trường hợp này, vì có dấu hiệu của tội phạm nên bạn có thể gửi đơn tố giác hành vi của A đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc đến các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Việc tố giác phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan để đề nghị khởi tố vụ án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Trân trọng.!.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?