1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi cho vay tiền ?

Xin chào Luật sư! Tôi xin trình bài về sự việc như sau :Vào ngày 15/06/2012 tôi có làm ăn với 1 người quen. Tôi có thế chấp quyền sử dụng đất cho người đó,khi hợp đồng vay của người đó là 360 triệu đông ,với lãi xuất la 5%, nhưng không làm giấy tờ gì hết.
Như vậy thì coi như hoàn tất về thỏa thuận hai bên đã giao kèo. Từ đó cho đến 1 tháng sau thì tôi đã hoàn trả lại 230 triệu mà tôi đã vay 360 triêu. Tức là tôi còn nợ lại 130 triệu. Và cho đến tháng thứ 2 của thời gian tôi đã vay,thi tôi kêu người đõ đem trả sổ cho tôi để tôi trả lại số tiền còn nợ là 130 triệu,vì tiền lời 5% thi lúc mượn 360 triêu thì người đó đã trừ trươc của tôi là 36 triêu.Thì đên lúc nầy việc làm ăn với nhau sinh ra mâu thuẫn nên người đó nói là tôi đã bán nhà đất cho họ rôi không chịu trả lại quyền sử dụng đất, không trả sổ đỏ cho tôi và tránh mặt không muốn găp tôi để giải quyết.
Như vậy đây có phải là hành vi lừa đảo chiêm đoạt tài sản hay ko,và tôi phải làm thế nào để lấy lại?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư!

>> Tư vấn pháp luật về hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Căn cứ vào quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 có quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2. Phân tích tội danh và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Hành vi gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét dưới 2 góc độ sau:
+ Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
+ Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
Trong trường hợp như bạn đã cung cấp cho chúng tôi:
+ Về mặt khách quan: đến tháng thứ 2 của thời gian bạn vay tiền thì bạn có nguyện vọng bên cho vay trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bạn sẽ trả nốt số tiền còn lại. Thì đến lúc này việc làm ăn với nhau sinh ra mâu thuẫn nên người đó nói là bạn đã bán nhà đất cho họ rôi không chịu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn và tránh mặt không muốn gặp để giải quyết. Vì hai bên đã thỏa thuận với nhau là bạn thế chấp quyền sử dụng đất để vay nợ. Trong trường hợp bạn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với bên chủ nợ thì bên chủ nợ mới có quyền giữ sổ "đỏ" để trừ vào số tiền bạn đã nợ. Bên chủ nợ trong trường hợp này đã đưa ra thông tin không đúng sự thật( bạn đã bán nhà cho họ) nhằm chiếm đoạt tài sản là căn nhà của bạn. Đồng thời về mặt chủ quan, hành vi của bên chủ nợ là hành vi cố ý (cố ý đưa thông tin không đúng sự thật và lảng tránh không gặp mặt để giải quyết)

3. Tổng kết: Như vậy, nếu hành vi của bên chủ nợ cấu thành đầy đủ những mặt như trên thì đây có thể coi là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để bảo vệ quyền lợi cho bạn, bạn có thể làm đơn trình báo người này tới cơ quan Công an nơi bạn đang cư trú. Cơ quan công an sẽ giúp bạn điều tra, làm rõ vụ việc này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Tố giác về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư! Em có quen một người trên mạng, anh ta là cảnh sát và nói sẽ chạy việc cho em vào ngành, anh ta quen nên chỉ mất khoảng 20 triệu tiền quà cáp thôi. Em làm hồ sơ và đưa cho anh ta số tiền 10 triệu đồng. Sau đó thì anh ta nói đợi họ gọi đi khám sức khoẻ. Sau đó thì em biết được anh ta không phải cảnh sát, đã từng đi tù và cũng đã lừa rất nhiều người khác như em.
Vậy em muốn hỏi luật sư là anh ta mắc tội gì và em phải làm gì để anh ta phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tránh có thêm người bị anh ta lừa tiếp ?
Mong luật sư giúp em ạ. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, Gọi: 1900.0159

Trả lời:

- Tội lửa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tai Điều 139, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Vậy theo những thông tin bạn đưa ra thì người mà nói mình làm công an rồi chiếm đoạt số tiền 10 triệu đồng của bạn có đủ dấu hiệu của tội lừa dối chiếm đoạt tài sản. Có hành vi khách quan là gian dối nói mình làm công an nhằm chiếm đoạt 10 triệu đồng (trên 2 triều đồng).

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì bạn có thể đi tố giác tội pham:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Bạn có thể đến cơ quan công an, viện kiểm sát, toà án hoặc UBND xã, huyện, tỉnh hoặc bất kỳ cơ quan nhà nước nào để tố giác hành vi phạm tội của người đã lừa tiền bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Cảnh báo hành vi lừa đảo thông qua tin nhắn trúng thưởng trên facebook ?

Thưa luật sư, Tôi có nhận được một tin nhắn qua face book thông báo đã trúng thưởng nhưng tôi gọi vào số điện thoại trong đó thì máy bận. Tôi nghĩ mình bị lừa đúng không ạ ?
Xin cảm ơn!

Trả lời:

Theo như dữ liệu bạn đưa ra thì bạn có nhận được một tin nhắn qua face book thông báo trúng thưởng nhưng khi bạn gọi vào số máy đó thì không có ai trả lời, đối với vấn đề này chúng tôi có khá nhiều bài viết liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Tư vấn lấy lại tiền bị lừa đảo qua mạng xã hội ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Mức án cho Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức ?

Chào luật sư hiện tại em đang học tập ở bên nhật. Ban đầu có 1 người mạo danh facebook bạn em, nhờ em kiếm người chuyển tiền về việt nam. Sau đó em nhờ 1 người chuyển tiền quyen biết ,chuyển cho người mạo danh facebook của bạn em và 2 người nay ( là người chuyển tiền và người mạo danh facebook của bạn em) lại giao thông qua em và em trở thành người trung gian bất đắc dĩ.

*1thì em có liên quan gì và trách nhiệm như nào2 người chuyển tiền bị người giả mạo facebook bạn em lừa mất hơn 40 triệtviệt nam đồng thì làm cách nào lấy lại được không3 là người chuyển tiền cứ gán cho em phải trả người ta số tiền đó đúng haysao4 là em nhận định đây là 1 nhóm người lừa đảo công nghệ cao ?

Xin luật sư tư vấn!

- Sam Nguyen

Luật sư trả lời:

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của một gười nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), như sau:

1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; (b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: (a) Có tổ chức; (b) Có tính chất chuyên nghiệp; (c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; (d) Tái phạm nguy hiểm; (đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; (e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; (g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; (b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; (c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; (b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; (c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Về cấu thành tội phạm, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định thành 05 khoản với khoản 1 là cấu thành cơ bản đối với hành vi trộm cắp tài sản. Khoản 2,3,4 là cấu thành cơ bản của tội phạm và khoản 5 quy định về hình phạt bổ sung đối với tội phạm này".

Trường hợp của bạn có thể lên cơ quan công an trình báo về hành vi của những người kia và cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về lừa đảo trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Hỏi về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Chào luật sư!. Hiện nay gia đình tôi ở Thái Nguyên, vợ tôi làm nghề buôn bán tự do, mùa vải năm nay do có mối hàng quen biết bên Trung Quốc qua giới thiệu là mua vải nên vợ tôi đã sang Lục Ngạn - Bắc Giang để mua vải bán cho Trung Quốc. Do Trung Quốc đặt hàng là mua 5 tấn và phải chuyển ngay trong ngày lên của khẩu Tân Thanh Lạng Sơn trươc 16h cùng ngày.
Trung Quốc đưa cho vợ tôi 10 triệu trước để mua, và hẹn khi giao hàng sẽ thanh toán nốt, do tin tưởng Trung Quốc nên vợ tôi đồng ý mua cho Trung Quốc. Vào ngày 25/6/2016 vợ tôi có gọi điện cho bà chị tên Ánh ( thường trú tại TT Bắc Sơn - Lạng Sơn ) cùng tham gia mua vải, thì được trả lời là chị cũng đang ở dưới Bắc Giang mua vải đi miền Nam rồi hẹn vợ tôi xuống đó cùng mua. Khi xuống đến nơi thì thấy chị ta cũng đang mua được một lượng hàng khá nhiều qua trao đổi vợ tôi bảo bên kia họ trả mình 4,1 đồng nhân dân tệ, tính ra là 14.000d/1kg. Thì chị Ánh cùng với bà chủ người miền Nam đồng ý, bảo là em lấy luôn số hàng này để bán cho TQ, và vợ tôi cũng bỏ ra 10 triệu để cùng mua. Sau đó cân được 6 tấn và chuyển lên cửa khẩu, do bị tắc đường hàng lên chậm giờ mà đã hẹn trước nên Trung Quốc không thanh toán tiền mà chỉ nói là bán hộ khi nào xong sẽ chuyển cho. Từ thứ 7 (25/6/2016) đến nay chưa thấy chuyển tiền thì vợ tôi mới biết là mình bị lừa.
Còn hai người kia thì giữ vợ tôi ở lại tại nhà nghỉ ( cầm hết giấy tờ xe máy, giấy tờ tùy thân và không cho đi đâu) dưới Bắc Giang không cho về, về bắt ép vợ tôi viết giấy vay nợ trị giá 82,8 triệu đồng ( vợ tôi đã ký ). Ngày 28/6/2016 vì lo lắng cho vợ nên tôi gọi điện cho công an huyện Lục Ngạn can thiệp vì hành vi mấy người kia giữ vợ tôi ở lại ( Vì con trai tôi còn nhỏ mới được 20 tháng tuổi). Họ nói sẽ kiện vợ tôi về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Và công an huyện Lục Ngạn cũng nói với tôi nếu gia đình không trả đủ số tiền như trong giấy vay nợ thì sẽ đưa ra truy tố. Về phần gia đình tôi sẽ trả số tiền trị giá đúng số tiền 6 tấn vải ( tính ra không đến 82,8 triệu).
Vậy tôi hỏi vợ tôi nếu chưa có tiền trả có bị quy là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Xin trân thành cám ơn.

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự rực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn cung cấp chúng tôi sẽ phân tích theo hai mối quan hệ sau:

Thứ nhất, mối quan hệ giữa vợ bạn và phía người Trung Quốc.

Việc mua bán vải giữa vợ bạn và phía bên Trung Quốc không có bất kỳ giấy tờ gì mà chỉ thông qua việc gọi điện trên điện thoại, đây là một rủi ro lớn khó để xác định và lấy lại tài sản nếu như bạn không biết được địa chỉ của phía bên kia.

Về hành vi của phía những người bên Trung Quốc, đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc hai triệu đồng nhưnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đếnhai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Thứ hai, về mối quan hệ giữa vợ bạn và những người bán vải.

Do vợ bạn mua bán hàng hóa với phái bên Trung Quốc không có giấy tờ, nên việc mua bán giữa vợ bạn với những người bán vải ở Bắc Giang sẽ hoàn toàn độc lập mà không có sự quan hệ của bên thứ ba ( là bên Trung Quốc).

Về việc bên Trung Quốc không thanh toán tiền cho vợ bạn, nhưng phía bên bạn vẫn phải thanh toán đầy đủ tiền đã cho bên bán theo quy định của pháp luật về Dân sự.

Điều 428 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 428. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Về việc thanh toán cần xem xét ý chí của bên bạn, có ý định trả số tiền trên cho bên bán hay không. Trong trường hợp này, gia đình bạn nên thỏa thuận với phía bên bán vải trên để thanh toán về khoản tiền còn thiếu trên và có thể bồi thường thiệt hại dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Nếu không thể thỏa thuận và phía bên bị thiệt hại có làm đơn khởi kiện đến Tòa án. Theo đó, Tòa án giải quyết dựa trên các nguyên tắc sau:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Tuy nhiên bên bán đã có hành vi giữ vợ bạn cầm hết giấy tờ xe máy, giấy tờ tùy thân và không cho đi đâu. Về hành vi này có thể cấu thành tội giam giữ người trái pháp luật theo quy định tại Điều 123 BLHS.

Điều 123. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người thi hành công vụ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người.

3. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Trong trường hợp này gia đình bạn nên làm đơn tố cáo cả về hành vi lừa đảo của những người bên Trung Quốc và việc bị những người bán vải tam giữ gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình. Tuy nhiên như đã phân tích phía trên việc mua bán vải với phía bên Trung Quốc không có bất cứ giấy tờ và thông tin gì thì rất khó lấy lại được tài sản đã mất, do đó bạn nên cân nhắc trước rủi ro này. Tuy nhiên, điều kiện để cấu thành hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi phải có thủ đoạn gian dối ngay từ đầu, để người khác tin tưởng giao tài sản cho mình. Còn vợ của bạn ban đầu cũng chỉ qua thông tin của người khác và tin tưởng, cũng là một nạn nhân trong trường hợp này, vì vậy, hành vi của vợ bạn thực hiện chưa đủ điều kiện để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?