Như vậy thì coi như hoàn tất về thỏa thuận hai bên đã giao kèo. Từ đó cho đến 1 tháng sau thì tôi đã hoàn trả lại 230 triệu mà tôi đã vay 360 triêu. Tức là tôi còn nợ lại 130 triệu. Và cho đến tháng thứ 2 của thời gian tôi đã vay,thi tôi kêu người đõ đem trả sổ cho tôi để tôi trả lại số tiền còn nợ là 130 triệu,vì tiền lời 5% thi lúc mượn 360 triêu thì người đó đã trừ trươc của tôi là 36 triêu.Thì đên lúc nầy việc làm ăn với nhau sinh ra mâu thuẫn nên người đó nói là tôi đã bán nhà đất cho họ rôi không chịu trả lại quyền sử dụng đất, không trả sổ đỏ cho tôi và tránh mặt không muốn găp tôi để giải quyết.

Như vậy đây có phải là hành vi lừa đảo chiêm đoạt tài sản hay ko,và tôi phải làm thế nào để lấy lại?

Xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hợp đồng cho vay tiền ?

>> Tư vấn pháp luật về hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017

Bộ Luật tố tụng hình sự 2015

2. Nội dung tư vấn:

2.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Căn cứ vào quy định tại Điều 174 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 có quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2.2 Phân tích tội danh và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Hành vi gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét dưới 2 góc độ sau:
+ Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
+ Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
Trong trường hợp như bạn đã cung cấp cho chúng tôi:
+ Về mặt khách quan: đến tháng thứ 2 của thời gian bạn vay tiền thì bạn có nguyện vọng bên cho vay trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bạn sẽ trả nốt số tiền còn lại. Thì đến lúc này việc làm ăn với nhau sinh ra mâu thuẫn nên người đó nói là bạn đã bán nhà đất cho họ rôi không chịu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn và tránh mặt không muốn gặp để giải quyết. Vì hai bên đã thỏa thuận với nhau là bạn thế chấp quyền sử dụng đất để vay nợ. Trong trường hợp bạn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với bên chủ nợ thì bên chủ nợ mới có quyền giữ sổ "đỏ" để trừ vào số tiền bạn đã nợ. Bên chủ nợ trong trường hợp này đã đưa ra thông tin không đúng sự thật( bạn đã bán nhà cho họ) nhằm chiếm đoạt tài sản là căn nhà của bạn. Đồng thời về mặt chủ quan, hành vi của bên chủ nợ là hành vi cố ý (cố ý đưa thông tin không đúng sự thật và lảng tránh không gặp mặt để giải quyết)

2.3 Tổng kết

Như vậy, nếu hành vi của bên chủ nợ cấu thành đầy đủ những mặt như trên thì đây có thể coi là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để bảo vệ quyền lợi cho bạn, bạn có thể làm đơn trình báo người này tới cơ quan Công an nơi bạn đang cư trú. Cơ quan công an sẽ giúp bạn điều tra, làm rõ vụ việc này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê