1. Quy định về chức danh của hội đồng nhân dân
Chủ tịch Hội đồng nhân dân được Hội đồng nhân dân bầu ra trong số các đại biểu Hội đồng nhân dan tại kì họp đầu tiên của mỗi khoá Hội đồng nhân dân để lãnh đạo thường trực Hội đồng nhân dân và bảo đảm các hoạt động của Hội đồng nhân dân.
Chủ tịch Hội đồng nhân dân có nhiệm kì theo nhiệm kì của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kì thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khoá mới bầu Chủ tịch Hội đồng nhân dân mới. Nếu trong nhiệm kì mà khuyết Chủ tịch Hội đồng nhân dân thì Hội đồng nhân dân có quyền bầu bổ sung Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân có thể được Hội đồng nhân dân miễn nhiệm khi có lí do chính đáng và có thể bị Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Theo Hiến pháp năm 1992, Chủ tịch Hội đồng nhân dân có-ở ba cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
2. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân
Như đã đề cập, Hội đồng nhân dân bao gồm các thành viên là đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri của đơn vị hành chính tương ứng bầu ra thông qua cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và kín. số lượng đại biểu của Hội đồng nhân dân ở mỗi chính quyền địa phương là không giống nhau và được xác định theo công thức cụ thể do Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định căn cứ vào dân số và đặc điểm đô thị - nông thôn của đơn vị hành chính tương ứng (Khoản 2 Điều 19; khoản 1 Điềụ 26; Điều 33; khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 47; Điều 54, Điều 61, Điều 68 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Khoản 1 các Điều 18,25, 32, 39, 46, 53, 60, 67 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Ước lượng chung, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có khoảng 50-105 đại biểu, Hội đồng nhân dân cấp huyện khoảng 30-45 đại biểu, Hội đồng nhân dân cấp xã khoảng 15-35 đại biểu. Mỗi khóa Hội đồng nhân dân có nhiệm kì 5 năm kể từ kì họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến kì họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa tiếp theo. Nhiệm kì của Hội đồng nhân dân có thể được rút ngắn hoặc kéo dài do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Khoản 1 Điều 10 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Một người chỉ có thể làm đại biểu Hội đồng nhân dân ở tối đa hai cấp đơn vị hành chính trong cùng nhiệm kì; nếu đã là đại biểu Quốc hội thì chỉ được làm đại biểu của một Hội đồng nhân dân trong cùng nhiệm kì (Khoản 3 Điều 36 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015). Theo cách tổ chức hiện nay, cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu của các Hội đồng nhân dân ở xã, huyện, tỉnh của mình trong cùng một cuộc bầu cử.
Cho dù ở đơn vị hành chính nào thì cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cũng bao gồm: Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân; ở đơn vị hành chính cấp tỉnh và huyện còn thành lập các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân dân là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân, có nhiệm vụ triệu tập kì họp của Hội đồng nhân dân, chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân, giữ mối liên hệ với các đại biểu Hội đồng nhân dân, đôn đốc, kiểm tra ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân ...Các ban của Hội đồng nhân dân là các cơ quan giúp việc của Hội đồng nhân dân, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình Hội đồng nhân dân, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách với Hội đồng nhân dân. Thường trực và các ban của Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và huyện có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ nghị quyết của Hội đồng nhân dân và pháp luật, văn bản của cấp trên tại địa bàn của tổ, đồng thời nghiên cứu, đóng góp ý kiến cho Hội đồng nhân dân và tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ tiếp xúc cử tri. Nhiệm kì của Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân theo nhiệm kì của Hội đồng nhân dân cùng cấp (Khoản 3,4 Điều 6; Điều 104 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Điều 112 Lụật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Khoán 3 Điều 10 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Như vậy, cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân giống cơ cấu tổ chức của Quốc hội, ngoại trừ sự hiện diện của các ban lâm thời.
Thường trực của Hội đồng nhân dân các cấp đều gồm có Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một hoặc hai Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân và trưởng các ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Tất cả các thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân đều do Hội đồng nhân dân bầu theo nghĩa Hội đồng nhân dân bầu các chức danh tương ứng tại kì họp đầu tiên của mỗi khóa Hội đồng nhân dân (Điểm a khoản 2 Điều 19; điểm d khoản 1 Điều 26; khoản 3 Điều 33; khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 54; khoản 2 Điêu 61; khoản 1, 2 Điều 83 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015); Sau khi đã được bầu vào các chức danh thì họ đương nhiên có tư cách tương ứng trong Thường trực Hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính đều thành lập các ban chuyên trách. Tuy nhiên số lượng các ban ở mỗi Hội đồng nhân dân là khác nhau. Hội đồng nhân dân tỉnh có Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội, nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì có thêm Ban dân tộc; Hội đồng nhân dân huyện có Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội, nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì cũng có thêm Ban dân tộc; Hội đồng nhân dân xã có Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Ở các đơn vị hành chính đô thị, Hội đồng nhân dân cũng thành lập các ban tương tự với các Hội đồng nhân dân nông thôn tương ứng. Riêng Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm Ban đô thị; Hội đồng nhân dân quận chỉ có Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội (không có Ban dân tộc); Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường có các ban giống như các ban tương ứng cùa Hội đồng nhân dân huyện, xã. Trưởng ban, Phó trưởng ban của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu (Khoản 3 các Điều 18,25,32,39,46, 52, 60 Luật tổ chức chính quyền địa phương nặm 2015 và Điểm a khoản 2 Điều 19; điểm d khoản 1 Điều 26; khoản 3 Điều 33; khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 54; khoản 2 Điều 61 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Các ủy viên của các ban do Trưởng ban đề xuất và Thường trực Hội đồng nhân dân phê chuẩn (Khoản 6 Điều 104 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015).
Chỉ có Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và huyện mới thành lập các tổ đại biểu. Các tổ đại biểu Hội đồng nhân dân được thành lập một cách đương nhiên. Đây chính là các nhóm hợp thành bởi các đại biểu được bầu ở cùng một hoặc một số đơn vị bầu cử trong đơn vị hành chính tương ứng. Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định số lượng tổ đại biểu của Hội đồng nhân dân, tổ trưởng và tổ phó của các tổ đại biểu đó (Khoản 4 các Điều 18,25,39,46, 53 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015).
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)