1. Chủ trương là gì?

Chủ trương là ý định, quyết định về phương hướng hành động (thường là về công việc chung) theo từ điển Tiếng Việt, về mặt nghĩa rộng.

Theo nghĩa hẹp, chủ trương là ý định, quyết định của tổ chức, cơ quan có thẩm quyền về phương hướng, chương trình, kế hoạch hành động của cả nước hay của từng ngành, từng địa phương hoặc trên từng lĩnh vực hoạt động như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... nhằm thúc đẩy việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

 

2. Chủ trương trong tiếng Anh là gì?

Chủ trương trong tiếng Anh là The policy

Chủ trương tiếng Anh có thể được định nghĩa như sau: The policy is that the owner's governing body may have the authority to assess the content elements of the activity to serve as a basis for preparing, browsing and approving other programs and activities. 

- Từ liên quan đến chủ trương tiếng Anh 

  • Endowment policy - tiếng Việt là Chủ trương hiến tặng
  • Insurance policy - tiếng Việt là Chủ trương bảo hiểm
  • Reservation policy - tiếng Việt là Chủ trương đối thoại
  • Good Neighbor Policy - tiếng Việt là Chủ trương láng giềng tốt
  • Scorched earth policy - tiếng Việt là Chủ trương trái đất thiêu đốt
  • The Common Agricultural Policy - tiếng Việt là Chủ trương chính sách nông nghiệp chung
  • Common Agricultural Policy - tiếng Việt là Chủ trương chính sách nông nghiệp chung
  • Investment policy - tiếng Việt là Chủ trương góp vốn đầu tư
  • Economic develop policy - tiếng Việt là Chủ trương phát triển kinh tế

 

- Ví dụ đoạn văn có chủ trương tiếng Anh

Investment policy means a decision of a competent authority on major contents of an investment progam or project, serving as a basis for making, submitting and approving an investment project.

Dịch tiếng Việt: chủ trương góp vốn đầu tư là quyết định hành động của cấp có thẩm quyền về những nội dung hầu hết của chương trình, dự án Bất động sản góp vốn đầu tư, làm địa thế căn cứ để lập, trình và phê duyệt quyết định hành động góp vốn đầu tư chương trình, dự án Bất động sản góp vốn đầu tư, quyết định hành động phê duyệt báo cáo giải trình điều tra và nghiên cứu khả thi dự án bất động sản công.

Economic develop policy in the coming time to strive for the exort productivity of fresh fruit to the fastidious market tripled over the same period last year.

Dịch tiếng Việt: Chủ trương phát triển kinh tế trong thời gian phấn đấu năng suất xuất khẩu hoa quả tương sang thị trường khó tính tăng gấp ba lần so với cùng kỳ năm ngoái.

 

3. Đặc điểm của chủ trương

  • Về mục đích: chủ trương được xây dựng nhằm chỉ đạo tổ chức, cá nhân trong xã hội và các cơ quan Nhà nước thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.
  • Về hình thức: chủ trương nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản dưới các hình thức như: nghị quyết, quyết định, chỉ thị và kết luận. Văn bản này không chứa đựng các quy phạm pháp luật nên không có tính bắt buộc phải thực hiện.
  • Về nội dung: chủ trương đưa ra phương hướng, chương trình, kế hoạch hành động của cả nước hay của từng ngành, từng địa phương hoặc trên từng lĩnh vực hoạt động như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... Những nội dung này phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

 

4. Chủ trương của Đảng trong tiếng Anh

- Chủ trương của Đảng trong tiếng Anh là: Party's policy

Party's policy in the coming years on hunger eradication and poverty reduction strves to reduce the number of poor house hold nationwide 20%.

Dịch nghĩa: Chủ trương của Đảng trong những năm tới về xóa đói giảm nghèo phấn đấu giảm số hộ nghèo trên toàn quốc xuống còn 20%.

 

5. Đường lối chủ trương của Đảng hiện nay thể hiện như thế nào?

Thứ nhất, đường lối của Đảng là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật

Ví dụ: Quan điểm của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó các thành phần kinh tế cạnh tranh tự do và bình đẳng đã xác định cơ sở chính trị cho việc xây dựng Hiến pháp năm 1992 cũng như các đạo luật quan trọng trên lĩnh vực kinh tế như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp... khi đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Những vấn đề chính trị khi đã thành đường lối của Đảng có giá trị rất to lớn trong đời sống xã hội, tác động mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật nước ta. Vì thế, pháp luật không chỉ là vấn đề chuyên môn mà phải thấm nhuần các quan điểm, đường lối chính trị của Đảng với phương châm: Chính trị là "linh hồn của pháp luật" như V.I.Leenin đã nói.

Thứ hai, Đường lối của Đảng không thay thế vai trò của pháp luật nhất là trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân hiện nay.

Đường lối của Đảng là quan điểm chính trị của một tổ chức đảng trong xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đường lối của Đảng được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật, đường lối của Đảng được "luật hóa", được "hóa thân" vào các quy định pháp luật, các quan hệ pháp luật như chủ thể, khách thể, nội dung quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lí,... nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước có tính độc lập tương đối bởi sự phân định rõ vị trí, chức năng của Đảng và pháp luật của Nhà nước trên cả hai phương diện lí luận và thực tiễn. Thể chế hóa không phải là việc sao chép máy móc những nội dung trong đường lối của Đảng thành pháp luật. Ở khía cạnh khác, đường lối của Đảng mang ý nghĩa và nội dung riêng còn pháp luật có những yêu cầu riêng. Pháp luật không thể phản ánh thụ động các nội dung trong đường lối của Đảng. Hoạt động lập pháp, thi hành và bảo vệ pháp luật là những hoạt động mang tính sáng tạo của Nhà nước. Đảng không thể làm thay Nhà nước trong các hoạt động đó.

Thứ ba, Sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tất yếu gắn chặt với quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng vào thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước.

Nói cách khác, hệ thống pháp luật ở nước ta thể hiện kết quả quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ đó, có thể nhận thức khái niệm về thể chế hóa như sau: Thể chế hóa là hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước trên cơ sở quán triệt định hướng tư tưởng, nội dung cơ bản trong đường lối của Đảng về điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định của đất nước. Ở nước ta, Đảng nắm quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Chính điều này quy định việc thể chế hóa thành nguyên tắc cơ bản của nền chính trị nước ta.

Thứ tư, một số đặc điểm chung của thể chế hóa đường lối của Đảng

Đường lối của Đảng được hoạch định trước: Đây là đặc điểm thể hiện tính tiền phong, trách nhiệm to lớn của Đảng đối với đất nước và nhân dân. Lãnh đạo bằng đường lối là phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng, đồng thời quy định đặc điểm của thể chế hóa ở Việt Nam, Đảng lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và hệ thống pháp luật phải phản ánh một cách đầy đủ đường lối của Đảng.

Thể chế hóa thuộc phạm vi hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật. Kết quả của hoạt động thể chế hóa không phải sự cụ thể hóa, chi tiết hóa đường lối của Đảng mà là kết quả của hoạt động lập pháp.

Thể chế hóa là hoạt động của Nhà nước, hoạt động đó cũng được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự kiểm tra, uốn nắn của Đảng đối với hoạt động lập pháp nói chung và thể chế hóa nói riêng không nên theo cơ chế tiền kiểm mà chủ yếu là hậu kiểm (chỉ trừ các vấn đề thuộc về bản chất chế độ chính trị của đất nước).

Thể chế hóa là hoạt động thể hiện quá trình nhận thức chính trị và nhận thức pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.

Từ bài viết trên của Luật Minh Khuê, mong rằng các bạn sẽ có thêm những thông tin cần thiết về Chủ trương tiếng Anh là gì? Nếu bạn đọc còn thắc mắc hoặc muốn biết thêm thông tin, hãy liên hệ với chúng tôi qua tổng đài tư vấn trực tuyến hotline 1900.6162, để được hỗ trợ kịp thời. Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn!