1. Nhà nước là gì ?

Nhà nước là hiện tượng xã hội rất đa dạng và phức tạp, được nhiều ngành khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng đã quan tâm nghiên cứu và đã có những luận giải khác nhau về khái niệm nhà nước. Trải qua các thời đại khác nhau, nhận thức, quan điểm về vấn đề này ngày càng thêm phong phú. Tuy nhiên, do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, năng lực nhận thức khác nhau, lại bị chi phối bởi yếu tố lợi ích, quan điểm chính trị..., vì vậy có nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước.

Có thể hiểu Nhà nước là một hình thức tổ chức của con người, nhà nước không đồng nhất với xã hội, nó chỉ là một bộ phận của xã hội. Nhà nước bao gồm những người không tham gia vào hoạt động sản xuất trực tiếp, nó được tổ chức ra để quản lí xã hội, điều hành mọi hoạt động của xã hội. Sự ra đời, tồn tại của nhà nước trong đời sống xã hội là tất yếu trước nhu cầu phối hợp hoạt động chung, duy trì trật tự chung, phòng chống ngoại xâm, thiên tai, bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng. Nhà nước được xem như cơ quan quyền lực tối cao của xã hội nhưng lại bị chi phối bởi những kẻ mạnh, lực lượng này dùng nhà nước vừa thực hiện việc điều hành các hoạt động chung của xã hội, vừa làm lợi riêng cho giai cấp mình.

Nhà nước cũng không hoàn toàn đồng nhất với quốc gia, nó chỉ là một trong ba yếu tố hợp thành quốc gia. Mặc dù nhà nước và pháp luật có sự gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau, tuy nhiên đó là hai hiện tượng khác nhau, do vậy về mặt nhận thức, không thể đồng nhất nhà nước và pháp luật.

2. Khái niệm chức năng xã hội của nhà nước

Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước thể hiện bản chất nhà nước và nhằm thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước trong giai đoạn phát triển cụ thể.

Chức năng của Nhà nước bao gồm các đặc điểm sau: (i) Chức năng nhà nước không phải là những hoạt động cụ thể riêng biệt của nhà nước mà là sự khái quát hóa 1 số hay 1 nhóm hoạt động của nhà nước. (ii) Không thể xác định chức năng nhà nước theo hoạt động của nhà nước. (iii) Nhiệm vụ là những mục tiêu nhà nước cần đạt tới, vấn đề đặt ra cần giải quyết. Mục tiêu là những kết quả cần đạt tới, xác định trước, thể hiện ý chỉ chủ quan. Vấn đề khách quan đặt ra cần được nhà nước giải quyết, không phụ thuộc vào y chí chủ quan con người.

Chức năng xã hội là chức năng đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. ... Từ đó có thể thấy, thực hiện tốt chức năng xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc củng cố địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền, của lực lượng cầm quyền.

3. Đặc điểm chức năng xã hội của Nhà nước?

Chức năng xã hội của nhà nước là tất yếu, khách quan, mức độ thực hiện chức năng này phụ thuộc vào tính tiến bộ hay phản động của giai cấp cầm quyền. “Các giai cấp thống trị ở thời điểm phát triển đi lên của mình, đã thực hiện chức năng xã hội hoàn toàn xác định và chính nhờ điều đó họ mới trở thành giai cấp thống trị”. Ngược lại, các giai cấp cầm quyền khi trở nên lỗi thời, phản động thì thường quá coi trọng chức năng giai cấp, coi nhẹ chức năng xã hội, không quan tâm đến đời sống của người dân, đẩy người dân đến cảnh khốn cùng, đó là thời điểm báo hiệu địa vị thống trị bị lung lay và sắp sụp đổ, bởi “Sự thống trị giai cấp chỉ có thể tồn tại với điều kiện là nó đảm bảo cho được những người bị áp bức không bị nghèo túng đến cùng cực”. Khi “những người bị áp bức nghèo túng đến cùng cực” thì họ sẽ nổi dậy đấu tranh nhằm lật đổ nhà nước hiện tồn, thiết lập một nhà nước mới, có thể thực hiện chức năng xã hội tốt hơn.

>> Xem thêm:  Chức năng cơ bản của gia đình là gì ? Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình ?

Từ đó có thể thấy, thực hiện tốt chức năng xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc củng cố địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền, của lực lượng cầm quyền. Chính chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện và phương thức thực hiện chức năng giai cấp như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”.

Chức năng xã hội của nhà nước thể hiện ở hai nhóm nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, nhà nước phải chăm lo những công việc chung của toàn xã hội, tất cả các giai cấp trong xã hội đều được hưởng lợi khi nhà nước thực hiện những công việc đó, thí dụ như: nhà nước bảo đảm trật tự an toàn xã hội; chống ô nhiễm môi trường, sinh thái; phòng chống lây lan dịch bệnh; xây dựng các công trình phúc lợi, công cộng...

Hai là, nhà nước phải thỏa mãn ở mức độ nào đó nhu cầu của các giai tầng khác trong xã hội, tức là phải thực hiện những chính sách đem lại lợi ích cho các giai tầng bị trị ở mức độ nhất định, dù cho những chính sách đó có thể ảnh hưởng đến lợi ích trước mắt của giai cấp cầm quyền. Thí dụ như nhà nước phong kiến giảm tô, giảm thuế, mở kho lương cứu đói cho nông dân; nhà nước tư sản thực hiện chính sách “tăng lương giảm giờ làm” đối với giai cấp công nhân… Như vậy, chức năng xã hội là đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của tất cả các thành phần trong xã hội ở một mức độ nhất định nào đó.

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác về chức năng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo Nhà nước ta đặc biệt coi trọng việc thực hiện chức năng xã hội. Người nêu rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân” và “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Khái niệm “dân” ở đây là tất cả mọi người dân sống trong đất nước Việt Nam, là toàn thể nhân dân Việt Nam.

4. Chức năng xã hội của Nhà nước thể hiện ở những mặt nào?

Chức năng xã hội của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam rất phát triển và được tiến hành với nhiều nội dung phong phú.

- Về văn hoá

Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một đất nước nghèo nàn lạc hậu, trình độ dân trí thấp. Vì thế, một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước là xây dựng nền văn hoá mới, con người mới nhằm phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh. Đẻ thực hiện nhiệm vụ trên, trước hết nhà nước đã bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể. Bằng việc bảo vệ, tôn tạo các di tích văn hoá, danh lam thắng cảnh, phát triển các lễ hội nhà nước đã góp phần nâng cao sự hiểu biết cho nhân dân, làm cho nhân dân ý thức được trách nhiệm của mình trước cộng đồng. Bên cạnh đó, việc hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa là việc làm được nhà nước quan tâm đặc biệt. Nhà nước thường xuyên chăm lo đến đời sống tinh thần của người dân nhằm hình thành nhân cách tốt cho thế hệ trẻ, có tấm lòng bao dung, sẵn sàng sẻ chia để từ đó có lối sống lành mạnh, góp phần giảm thiểu những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Tuy nhiên, việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới phải được thực hiện thống nhất, hài hoà trong phạm vi cả nước, tránh việc làm tràn lan gây lãng phí của cải xã hội.

- Về giáo dục

>> Xem thêm:  Chức năng xã hội của Nhà nước là gì? Quan điểm của Ph. Ăng-ghen về chức năng xã hội của nhà nước?

Mặc dù nhà nước đã có rất nhiều cố gắng trong việc tổ chức và quản lí nền giáo dục quốc dân, tuy nhiên thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Chương trình học của cấp tiểu học cũng như các cấp phổ thông hiện đang quá tải đối với học sinh. Hoạt động giáo dục nặng về trang bị kiến thức lí thuyết mà chưa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện thể lực, kĩ năng sống, cũng như thực hành. Giáo dục đại học cũng còn nhiều hạn chế, có quá nhiều cơ sở đào tạo và tình trạng chồng chéo ngành nghề dẫn đến sự lãng phí trong xã hội. Việc đổi mới phương pháp giáo dục chậm thực hiện và chưa xứng tầm với thời đại... Thực hiện việc tổ chức và quản lí giáo dục hiện nay, nhà nước phải tiến hành một cách toàn diện, từ nội dung, chương trình học, đến thời gian học cũng như phương pháp dạy và học hiện nay. Nhà nước phải chú trọng việc đào tạo và chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ giáo viên; tạo ra những người thày có phẩm chất, năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn vững vàng để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ngày càng đi lên. Nhà nước phải tiếp tục thực hiện chính sách phổ cập giáo dục phổ thông; thực hiện xã hội hoá trong giáo dục; có chính sách học phí, học bổng thỏa đáng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục...

- Về tế và phát triển nguồn nhân lực:

Nhà nước đã và đang mở rộng mạng lưới y tế, chú trọng đào tạo đội ngũ thầy thuốc; hiện đại hoá các cơ sở khám chữa bệnh, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền; đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm... Nhà nước có chính sách dân số hợp lý, tránh gia tăng dân số quá nhanh, nhưng phải đảm bảo mức sinh thay thế; bảo đảm việc làm đồng thời cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động; giải quyết đúng đắn vấn đề thu nhập của người lao động; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội toàn dân...

- Về khoa học công nghệ

Hiện nay những thành tựu tiến bộ của khoa học và công nghệ thế giới đã tạo ra những bước đột phá cho việc phát triển nhiều lĩnh vực của xã hội. Để theo kịp thời đại, Nhà nước ta phải đầu tư một cách thỏa đáng cho việc phảt triển khoa học, công nghệ; xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học, nhất là những trung tâm nghiên cứu khoa học lớn; bồi dưỡng những người làm công tác nghiên cứu khoa học; phát hiện tài năng ừẻ để đào tạo, đồng thời phải thực hiện chính sách đãi ngộ họp lí đối với những người tài, khuyến khích họ tận tâm nghiên cứu khoa học, phục vụ đất nước, tránh tình trạng lãng phí, chảy máu chất xám đã từng xảy ra. Đồng thời, cần phải thực hiện tốt việc hợp tác với các nước khác để tiếp thu những tiến bộ của khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ vào việc phát triển đất nước.

- Về vấn đề dân tộc, tôn giáo

Nhà nước có chính sách tôn giáo, dân tộc hợp lí, đảm bảo sự phát triển hài hoà của mọi vùng miền trong cả nước. Đặc biệt là chính sách ưu tiên phát triển ở những vùng sâu, vùng xa, nơi sinh sống của nhiều đồng bào thiểu số.

- Về bảo vệ môi trường, phòng chổng thiên tai, ứng phó thảm họa

Đây là chức năng rất quan trọng của nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Nhà nước xác định bảo vệ môi trường là điều kiện sống còn, nhà nước quy định nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân, nhất là các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Nhà nước có chính sách khai thác và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, tiết kiệm; chống ô nhiễm và suy thoái môi trường; bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường. Nhà nước quy định các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường... Nhờ có các biện pháp tổng thể và đồng bộ mà sự phát triển kinh tế đã được kết hợp chặt chẽ với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội.

Nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách nhằm ngăn ngừa những hiện tượng dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng thời, chủ động, tích cực khắc phục khủng hoảng kinh tế xã hội cũng như ứng phó với những thảm họa có thể xảy ra. Nhà nước thực hiện rất nhiều chính sách hỗ trợ khi xảy ra những thiệt hại cho nhân dân trong nông, lâm, ngư nghiệp...

>> Xem thêm:  Chức năng xã hội của luật sư thể hiện ở những phương diện nào?

Tóm lại, chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản, chủ yếu, thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục đích của thực hiện chức năng này là mang lại lợi ích cho đại bộ phận nhân dân lao động.

5. Quan điểm của Ph. Ăng-ghen về chức năng xã hội của nhà nước 

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ph. Ăng-ghen đã tổng kết sự phát triển của lịch sử và rút ra kết luận: “Nhà nước quyết không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội. Nó cũng không phải là cái “hiện thực của ý niệm đạo đức”, là “hình ảnh và hiện thực của lý tính” như Ph. Hê-ghen khẳng định. Đúng ra, nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định”. Bởi vì, trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa xuất hiện nhà nước. Tổ chức xã hội đầu tiên của xã hội loài người là thị tộc, bộ lạc. Đứng đầu thị tộc, bộ lạc là tù trưởng, tộc trưởng. Quyền lực của người đứng đầu thị tộc, bộ lạc dựa vào chính sức mạnh đạo đức và uy tín của mình.

Theo Ph. Ăng-ghen, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, theo đó, xã hội bị phân chia thành các giai cấp. Cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đối kháng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử - xã hội là chủ nô và nô lệ. Cuộc đấu tranh này dẫn tới nguy cơ chẳng những các giai cấp đó tiêu diệt lẫn nhau mà tiêu diệt luôn cả xã hội. Để thảm họa đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời, đó là nhà nước. Điều đó cho thấy, ngay từ khi ra đời, nhà nước đã là cơ quan quyền lực giải quyết những vấn đề công cộng, nhằm giữ cho xã hội có sự ổn định trong khuôn khổ nhất định. 

Bên cạnh đó, “Vì nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức”. Từ quan niệm trên của Ph. Ăng-ghen cho thấy, nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị về mặt kinh tế thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước là công cụ bảo vệ, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất mà giai cấp thống trị là đại biểu, vì nhu cầu, lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị và nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội. Để đạt được mục đích đó, trước hết nhà nước phải thể chế hóa mục đích của giai cấp thống trị thành những quy định, quy tắc chuẩn mực chung (hiến pháp, pháp luật) và tạo lập tổ chức bộ máy nhà nước. Trên cơ sở những quy định, quy tắc chuẩn mực chung, các cơ quan nhà nước thực hiện những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quản lý, điều tiết đất nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây chính là chức năng giai cấp của nhà nước - chức năng thực hiện sự thống trị chính trị của giai cấp đối với xã hội. 

Tuy nhiên, nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là không phải có chính quyền nhà nước trong tay rồi thì giai cấp thống trị có thể sử dụng nó như một công cụ để thực hiện những lợi ích kinh tế của mình. Nhà nước muốn hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì không chỉ phụ thuộc vào giai cấp thống trị về mặt kinh tế, mà còn tùy thuộc rất lớn vào mức độ phù hợp của nó đối với yêu cầu của sự phát triển xã hội, vào mức độ ủng hộ của xã hội, của quần chúng nhân dân đối với những hoạt động của nó. Do vậy, trong chừng mực nhất định, nhà nước phải quan tâm giải quyết những công việc của các giai cấp, tầng lớp khác nói riêng, của cả xã hội nói chung để bảo đảm cho xã hội ổn định và giữ cho nó hoạt động trong vòng “trật tự” nhất định. Nói cách khác, nhà nước phải hoàn thành những chức năng mà xã hội giao phó, đó là chức năng xã hội của nhà nước. 

Nhà nước là bộ máy quản lý xã hội trong xã hội có giai cấp, do vậy, chức năng xã hội của nhà nước không mang tính xã hội “thuần túy”, mà cũng mang tính giai cấp. Tuy nhiên, tính giai cấp của chức năng xã hội biểu hiện ít rõ nét hơn chức năng giai cấp, nhưng suy cho cùng, nó cũng bị chi phối bởi ý chí và lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị. Tính hiệu quả của chức năng xã hội không chỉ phụ thuộc vào mức độ phù hợp của thiết chế, tổ chức bộ máy đối với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, mà quan trọng hơn, còn tùy thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp cầm quyền. Giai cấp cầm quyền khi còn là giai cấp tiên tiến, còn là giai cấp đại biểu cho sự tiến bộ xã hội, thì nhà nước có khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội. Ph. Ăng-ghen viết: “Các giai cấp thống trị ở thời phát triển đi lên của mình, đã thực hiện những chức năng xã hội hoàn toàn xác định và chính nhờ điều đó họ mới trở thành giai cấp thống trị”. Ngược lại, khi giai cấp cầm quyền đã trở nên lỗi thời, phản động thì dù muốn hay không, nó cũng không thể thực hiện tốt chức năng xã hội của nhà nước. Khi đó, nền kinh tế - xã hội sớm muộn sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Do vậy, cố gắng thực hiện chức năng xã hội ở mức độ cần thiết có vai trò vô cùng quan trọng trong việc củng cố địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền, của lực lượng cầm quyền. Bởi vì, chính chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện và phương thức thực hiện chức năng giai cấp của nhà nước, “sự thống trị giai cấp chỉ có thể tồn tại với điều kiện là nó bảo đảm được cho những người bị áp bức không bị nghèo túng đến cùng cực”.

Đề cập đến chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Ph. Ăng-ghen luôn nhắc nhở cần phải coi chức năng xã hội là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của nhà nước. Tuy nhiên, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước không nguyên nghĩa, là nhà nước “nửa nhà nước” nên chức năng xã hội của nó cũng phải thay đổi. Ph. Ăng-ghen khẳng định: “Tất cả mọi người xã hội chủ nghĩa đều đồng ý công nhận rằng nhà nước và cùng với nhà nước là quyền uy chính trị, sẽ mất đi sau cuộc cách mạng xã hội tương lai, nghĩa là những chức năng xã hội sẽ mất tính chất chính trị và sẽ biến thành những chức năng quản lý đơn thuần chăm lo đến lợi ích của xã hội”. Điều đó cho thấy, khi xã hội không còn giai cấp thì những nội dung thuộc chức năng xã hội của nhà nước sẽ do xã hội tự đảm nhiệm.