Mục lục bài viết
- 1. Có bị phạt khi giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển?
- 2. Hành vi tạm trú, lưu trú, che giấu hành vi tạm trú, lưu trú không đúng quy định trong khu vực biên giới biển
- 3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt người giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển không?
1. Có bị phạt khi giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển?
Mức xử phạt đối với người giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển đã được quy định cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 96/2020/NĐ-CP như sau:
Các hành vi vi phạm liên quan đến quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển đều đang chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Theo quy định nêu rõ, sự vi phạm này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt cảnh cáo hoặc mức phạt tiền nằm trong khoảng từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.
Cụ thể, mức phạt này áp dụng cho những tình huống sau đây:
- Trường hợp công dân Việt Nam tiến vào khu vực biên giới biển hoặc khu vực hạn chế hoạt động nằm trong khu vực biên giới biển mà họ không mang theo Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng xác minh danh tính và quyền lợi của họ, cũng như gây ra phiền toái trong quá trình di chuyển và hoạt động trong khu vực này. Do đó, việc đảm bảo mang theo các giấy tờ cá nhân quan trọng là cực kỳ quan trọng khi tiến vào khu vực biên giới biển, giúp bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân và tuân thủ quy định của pháp luật
- Khi người dân tạm trú, lưu trú, hoặc di chuyển trong khu vực biên giới biển mà không tuân theo các quy định và ràng buộc được đề ra bởi pháp luật.
- Trường hợp không có sự khai báo hoặc che giấu thông tin, hoặc giúp đỡ người khác vào việc di chuyển, tạm trú hoặc lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển.
Như vậy, quy định này nhằm đảm bảo sự tuân thủ đối với các quy định liên quan đến hoạt động trong khu vực biên giới biển và đồng thời tạo sự giám sát và quản lý chặt chẽ trong việc duy trì an ninh và trật tự tại khu vực này. Điều này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp biên giới biển và giúp duy trì an ninh biển đảm bảo cho quốc gia.
2. Hành vi tạm trú, lưu trú, che giấu hành vi tạm trú, lưu trú không đúng quy định trong khu vực biên giới biển
Căn cứ vào Điều 6 của Thông tư 82/2022/TT-BQP, quy định về hành vi vi phạm liên quan đến quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển đã được chi tiết hóa như sau:
- Hành vi quy định tại điểm b, khoản 1 của Điều 8 của Nghị định số 96/2020/NĐ-CP bao gồm:
+ Việc cư trú hoặc tạm trú quá thời hạn quy định đối với người nước ngoài tham gia làm việc, học tập, thực hiện hoạt động đầu tư hoặc kinh doanh tại khu kinh tế nằm trong khu vực biên giới biển hoặc một phần địa giới hành chính thuộc khu vực biên giới biển đang là một vấn đề quan trọng trong quản lý và kiểm soát biên giới. Điều này nhằm đảm bảo an ninh quốc gia và quyền lợi của cộng đồng, đồng thời cũng tạo cơ hội cho các hoạt động kinh tế, đầu tư, và học tập theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân thủ các quy định về thời hạn cư trú và tạm trú của người nước ngoài tại khu vực biên giới biển là điều cần thiết để đảm bảo sự hài hòa và phát triển bền vững trong khu vực này.
+ Tạm trú, lưu trú hoặc di chuyển trong khu vực biên giới biển mà không tuân theo quy định và không chấp hành sự kiểm tra, kiểm soát của Bộ đội Biên phòng và các cơ quan có thẩm quyền là hành vi gây ra sự bất ổn và tiềm ẩn nguy cơ cho an ninh biên giới và quốc gia. Để đảm bảo tình hình an ninh và trật tự trong khu vực biên giới biển, việc tuân thủ các quy định và chấp hành sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng là cực kỳ quan trọng. Điều này giúp ngăn chặn các hoạt động bất hợp pháp, bảo vệ chủ quyền quốc gia, và đảm bảo an toàn cho tất cả cư dân và những người sống và làm việc trong khu vực biên giới biển.
- Hành vi quy định tại điểm c, khoản 1 của Điều 8 của Nghị định số 96/2020/NĐ-CP là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức không thực hiện thông báo, khai báo hoặc đăng ký với cơ quan hoặc người có thẩm quyền về việc tạm trú, lưu trú trong khu vực biên giới biển, hoặc hành vi biết rõ người khác không được phép di chuyển, tạm trú, lưu trú trong khu vực biên giới biển mà che giấu, cất giữ, giúp đỡ hoặc tạo điều kiện cho người đó di chuyển, tạm trú hoặc lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển.
Hành vi tạm trú, lưu trú, đi lại không tuân thủ quy định tại khu vực biên giới biển bao gồm:
+ Cư trú, tạm trú quá thời hạn quy định đối với người nước ngoài tham gia làm việc, học tập, thực hiện hoạt động đầu tư hoặc kinh doanh tại khu kinh tế nằm trong khu vực biên giới biển hoặc một phần địa giới hành chính thuộc khu vực biên giới biển.
+ Tạm trú, lưu trú, hoặc di chuyển trong khu vực biên giới biển mà không tuân theo quy định và sự kiểm tra, kiểm soát của Bộ đội Biên phòng và các cơ quan có thẩm quyền.
Hành vi không khai báo hoặc che giấu, giúp đỡ người khác di chuyển, tạm trú, lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển được hiểu là việc cá nhân hoặc tổ chức không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc tạm trú, lưu trú trong khu vực biên giới biển hoặc biết rằng người khác không được phép di chuyển, tạm trú hoặc lưu trú trong khu vực biên giới biển, nhưng vẫn che giấu, cất giữ thông tin, giúp đỡ hoặc tạo điều kiện để người đó di chuyển, tạm trú hoặc lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt người giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển không?
Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt người giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển được quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 96/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 2 Nghị định 37/2022/NĐ-CP như sau:
Để xác định thẩm quyền xử phạt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo quy định sau đây:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi có biên giới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại các Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13 và Điều 14 của Nghị định 96/2020/NĐ-CP trong phạm vi quản lý của địa phương mình theo thẩm quyền quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 96/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm a khoản 14 Điều 2 Nghị định 37/2022/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã như sau:
Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi có biên giới
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 5.000.000 đồng;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 10.000.000 đồng;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 3 Điều 3 Nghị định 96/2020/NĐ-CP
Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị định 96/2020/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính như sau:
Mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Chương III Nghị định 96/2020/NĐ-CP là thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức bằng hai lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.
Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia với mức phạt tiền cao nhất là 5.000.000 đồng đối với cá nhân và cao nhất là 10.000.000 đồng đối với tổ chức.
Vì vậy, người giúp đỡ người khác lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền cao nhất là 500.000 đồng, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt trong trường hợp này.
Xem thêm bài viết: Thông báo lưu trú khi có khách đến chơi qua đêm
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật