1. Bảo vệ quyền của người bị hại ở châu Mỹ

Xét về lịch sử cũng như sự phát triển thì quyền con người ở châu Mỹ có bề dày thời gian thua kém châu Âu. Ví dụ: ủy ban Quyền con người châu Mỹ (Inter-American Commission on Human Rights - IACHR) được thành lập năm 1959 (ra đời sau Uy ban Quyền con người châu Âu năm 1954), Công ước châu Mỹ về quyền con người (American Convention on Human Rights) ra đời năm 1969 (chậm hơn 19 năm so với Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản The European Convention for the Protection of Human Rights and Fundermental Freedoms, 1950).

Tuy nhiên, các nhà hoạt động về nhân quyền châu Mỹ lại là những người đầu tiên lên tiếng bảo vệ quyền của người bị hại, nạn nhân và nhân chứng trong các vụ án hình sự. Trên thế giới, chính các nhà nhân quyền Mỹ là những người tiên phong kêu gọi bảo vệ quyền của người bị hại vào những năm cuối 1970. Sau đó, tại Mỹ, quyền của người bị hại đã khẳng định như là một quyền hiến định vào năm 1982 với Bộ luật đầu tiên về quyền của người bị hại The Victim Rights Act.

Toà án Quyền con người châu Mỹ thực hiện hai chức năng xét xử và tư vấn, và ở cả hai bộ máy này đều có ủy ban tiếp nhận thông tin và bảo vệ người bị hại, nạn nhân, nhân chứng. Khác với Tòa án Quyền con người châu Âu, Toà án Quyền con người châu Mỹ cho phép cá nhân hoặc nạn nhân trực tiếp gửi khiếu nại đến ủy ban Quyền con người châu Mỹ để xem xét khả năng thụ lý. Và trong suốt quá trình thụ lý vụ án, các nạn nhân, nhân chứng đều được đặt dưới sự bảo vệ tối đa, họ được tư vấn để có được sự bồi thường từ phía người phạm tội hoặc có thể là những bồi thường từ phía nhà nước cho các tổn thất mà họ phải gánh chịu.

2. Công ước nhân quyền châu Mỹ

Công ước châu Mỹ về Nhân quyền (tiếng Anh: American Convention on Human Rights) cũng thường gọi là Hiệp ước San José, là một Văn kiện về nhân quyền quốc tế. Công ước này được các nước châu Mỹ chấp thuận trong cuộc họp ở San José, Costa Rica ngày 22.11.1969, và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 18.7.1978 sau khi Grenada nộp văn kiện phê chuẩn thứ 11 (theo quy định).

Các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ Công ước là những Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ và Tòa án Nhân quyền liên Mỹ, cả hai đều là các cơ quan của Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ.

Theo lời mở đầu, mục đích của Công ước là "để củng cố ở bán cầu này, một hệ thống tự do cá nhân và công bằng xã hội dựa trên sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người, trong khuôn khổ của các thiết chế dân chủ".

Chương I đưa ra nghĩa vụ chung của các bên ký kết phải bảo vệ các quyền được quy định trong Công ước cho tất cả mọi người thuộc thẩm quyền pháp lý của mình, và làm cho các luật quốc gia của mình phù hợp với Công ước.

Chương II gồm 23 điều, đưa ra một danh sách các quyền dân sự và chính trị cá nhân dành cho mọi người, trong đó có quyền sống "nói chung, từ lúc thụ thai", quyền được đối xử nhân đạo, được xét xử công bằng, được có cuộc sống riêng tư, được tự do lương tâm, tự do lập hội, tự do đi lại, v.v...

Điều khoản duy nhất của Chương III nói về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Việc đề cập hơi qua loa về vấn đề này ở đây sau đó hơn 10 năm đã được mở rộng bằng Nghị định thư San Salvador.

Chương IV mô tả những trường hợp trong đó một số quyền có thể bị tạm đình chỉ, chẳng hạn như trong các tình trạng khẩn cấp, và các thủ tục phải theo để việc đình chỉ quyền như vậy được hợp pháp.

Chương V đưa ra sự cân bằng giữa các quyền và nghĩa vụ được ghi trong Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và trách nhiệm của con người, chỉ ra rằng các cá nhân đều có các quyền cũng như các trách nhiệm.

Các chương VI, VII, VIII và IX bao gồm các quy định về việc thiết lập và vận hành 2 cơ quan có trách nhiệm giám sát việc tuân thủ Công ước: Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ, có trụ sở ở Washington, D.C., Hoa Kỳ, và Tòa án Nhân quyền liên Mỹ, có trụ sở ở San José, Costa Rica.

Chương X quy định các cơ chế về phê chuẩn, tu chính Công ước, hoặc đưa các quyền bảo lưu vào trong Công ước, hoặc tuyên bố rút ra khỏi Công ước. Nhiều quy định chuyển tiếp được đặt ra trong chương XI.

3. Chức năng xét xử của Tòa án Nhân quyền châu Mỹ

Chức năng trọng tài xét xử đòi Tòa án phải xét xử các vụ khiếu kiện được đưa ra Tòa, trong đó một bên nước ký kết Công ước châu Mỹ về Nhân quyền và như vậy đã chấp nhận thẩm quyền của tòa án - bị cáo buộc tội vi phạm nhân quyền.

Theo Công ước Nhân quyền châu Mỹ thì các vụ khiếu kiện được chuyển tới Tòa án Nhân quyền bởi Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ hoặc bởi một bên quốc gia thành viên. Trái với Tòa án Nhân quyền châu Âu, các cá nhân công dân của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ không được phép nộp đơn trực tiếp cho Tòa án.

Các điều kiện sau đây phải được thực hiện:

- Các cá nhân tin rằng các quyền của họ đã bị vi phạm thì trước hết phải nộp đơn khiếu nại với Ủy ban Nhân quyền và được Ủy ban quyết định là đơn có thể chấp nhận.

- Nếu đơn khiếu kiện được chấp nhận và nhà nước được coi là có lỗi, thì thường Ủy ban sẽ đưa cho nhà nước một danh sách các khuyến nghị để sửa chữa lỗi vi phạm.

- Chỉ khi nhà nước không tuân thủ các khuyến nghị này, hoặc nếu Ủy ban quyết định rằng vụ án có tầm quan trọng đặc biệt hoặc lợi ích hợp pháp, thì vụ việc sẽ được chuyển cho Tòa án Nhân quyền.

- Việc đưa một vụ việc ra trước Tòa án do đó có thể được coi là một biện pháp cuối cùng, chỉ được thực hiện sau khi Ủy ban đã thất bại trong việc giải quyết vấn đề một cách không gây ra bất hòa.

Việc kiện trước tòa được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn văn bản viết và giai đoạn thẩm vấn bằng miệng.

4. Giai đoạn viết bằng văn bản

Trong giai đoạn viết bằng văn bản, đơn kiện được nộp, nêu rõ các sự kiện của vụ án, các nguyên đơn, chứng cứ và các nhân chứng mà nguyên đơn dự định đưa ra trước phiên tòa, cùng các yêu cầu bồi thường và các chi phí. Nếu đơn được thư ký tòa án quyết định chấp nhận, thì thông báo về việc đó được gửi cho các thẩm phán, nhà nước hoặc Ủy ban Nhân quyền (tùy thuộc vào ai là người chuyển đơn tới tòa án), các nạn nhân hoặc thân nhân ruột thịt của họ, các nước thành viên khác, và trụ sở chính của "Tổ chức các quốc gia châu Mỹ".

Trong vòng 30 ngày sau khi thông báo, bất cứ bên nào trong vụ kiện đều có thể gửi một bản tóm tắt các sự kiện trong vụ tố tụng trong đó có những lý lẽ bác bẻ sơ bộ đối với đơn kiện.

Nếu xét thấy cần thiết, Toà án có thể triệu tập một phiên điều trần để giải quyết các lý lẽ bác bẻ sơ bộ. Mặt khác, để tiết kiệm thủ tục, tòa án có thể giải quyết các lý lẽ bác bẻ sơ bộ của các bên cùng với lẽ phải trái của vụ án tại phiên điều trần này.

Trong vòng 60 ngày sau khi thông báo, bên bị cáo phải nộp một bản trả lời bằng văn bản về những điều nguyên đơn khiếu kiện, nêu rõ việc mình chấp thuận hoặc phản đối các sự kiện và các đòi hỏi của nguyên đơn.

Một khi bản trả lời này đã được nộp, thì bất kỳ bên nào trong vụ kiện đều có thể xin phép Chủ tịch tòa án cho nộp các bản biện hộ bổ sung trước khi bắt đầu giai đoạn thẩm vấn bằng miệng.

5. Giai đoạn thẩm vấn bằng miệng

Chủ tịch tòa án đưa ra ngày tháng bắt đầu thủ tục tố tụng bằng lời nói, trong phiên tòa phải có sự hiện diện tối thiểu của 5 thẩm phán mới được coi là hợp lệ. Trong giai đoạn này, các thẩm phán có thể hỏi bất cứ ai trong 2 bên (nguyên và bị cáo) bất kỳ câu nào mà họ thấy phù hợp. Các nhân chứng, các chuyên gia làm chứng, và những người khác được nhận tham gia tố tụng, có thể - theo xét đoán của chủ tọa phiên tòa -, bị thẩm vấn bởi các đại diện của Ủy ban Nhân quyền hoặc nhà nước thành viên, hoặc bởi các nạn nhân, các thân nhân ruột thịt của họ, hoặc các người đại diện họ, nếu có. Chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định xem các câu hỏi có liên quan tới vấn đề hay không.

Sau khi nghe các nhân chứng cùng các chuyên gia và phân tích các chứng cứ được trình ra, Toà án đưa ra phán quyết của mình. Các thảo luận của các thẩm phán được thực hiện riêng tư kín đáo, một khi phán quyết đã được thông qua, thì nó được thông báo đến tất cả các bên liên quan. Nếu phán quyết không bao gồm các bồi thường áp dụng cho vụ này, thì chúng phải được xác định tại một buổi điều trần riêng hoặc thông qua một số thủ tục khác theo quyết định của Toà án. Phần bồi thường do Tòa án quy định có thể gồm cả tiền lẫn hiện vật không phải là tiền.

Dạng đền bù trực tiếp nhất là bồi thường bằng tiền cho các nạn nhân hoặc thân nhân ruột thịt của họ. Tuy nhiên, nhà nước cũng có thể được yêu cầu cấp cho nạn nhân các lợi ích bằng hiện vật, công khai nhìn nhận trách nhiệm của mình, thực hiện các bước để ngăn chặn các vi phạm tương tự có thể xảy ra trong tương lai, và các hình thức bồi thường phi tiền tệ khác.

Chẳng hạn, phán quyết của Tòa án tháng 11 năm 2001 trong vụ xét xử thảm sát Barrios Altos tại Lima, Peru trong tháng 11 năm 1991, trong đó 15 người bị giết bởi tiểu đội giết người (death squad) của Colina Group do nhà nước bảo trợ - Tòa án đã ra lệnh:

  • Trả các khoản tiền 175.000 dollar Mỹ cho 4 người sống sót và cho thân nhân của các nạn nhân bị giết, và một khoản 250.000 dollar Mỹ cho gia đình của một trong những nạn nhân.
  • Tòa án cũng yêu cầu Peru cấp cho các gia đình nạn nhân bảo hiểm y tế miễn phí và nhiều khoản trợ cấp giáo dục dưới hình thức khác, trong đó có các học bổng, đồng phục học sinh, dụng cụ trang bị và sách vở.
  • Bãi bỏ hai luật ân xá gây tranh cãi;
  • Đưa "tội giết người mà không có tòa án xét xử" - vào trong pháp luật của nước mình;
  • Phê chuẩn Công ước quốc tế về khả năng không áp dụng các hạn chế theo luật định đối với các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại; (International Convention on the Nonapplicability of Statutory Limitations to War Crimes and Crimes against Humanity);
  • Công bố phán quyết của Tòa án trên phương tiện thông tin đại chúng quốc gia;
  • Công khai xin lỗi về vụ việc (thảm sát trên) và cam kết ngăn chặn các sự kiện tương tự tái diễn trong tương lai; và
  • Xây dựng một đài tưởng niệm cho các nạn nhân của vụ thảm sát

Trong khi không được kháng cáo các quyết định của Tòa án, các bên có thể nộp yêu cầu giải thích bản án nơi thư ký Tòa án trong vòng 90 ngày sau khi công bố bản án. Khi có thể, các yêu cầu việc giải thích sẽ được xử lý bởi cùng một ban thẩm phán đã đưa ra phán quyết này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)