1.Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở châu Âu
Như đã đề cập ở các phần trên, những tư tưởng triết học và pháp lý về quyền con người đã được phát triển ở châu Âu từ rất sớm (từ thế kỷ XIII) và trở nên rực rỡ trong thời kỳ Phục Hưng (th ế kỷ XVI-XVIII). Trong thời kỳ này, ở châu Âu, các quyền và tự do cơ bản của con người đã được ghi nhận và thể hiện dưới dạng các quyền công dân trong m ột số văn kiện pháp lý nổi tiếng c ủa nhiều quốc gia như Tuyên ngôn về quyền (được Nghị viện Anh thông qua vào năm 1688); Tuyên ngôn quyền con người và dân quyền (được Qu ốc Hội Pháp thông qua năm 1789)... Nói cách khác, châu Âu có một lịch sử tư tưởng phong phú bậc nhất trên thế giới trong vấn đề quyền con người.
Hệ thống văn kiện khu vực về quyền con người ở châu Âu hiện nay có nòng c ốt là Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản (the European Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) được H ội đồng châu Âu thông qua từ ngày 4-11-1950, có hiệu lực từ tháng 9 năm 1953. Mọi quốc gia nếu muốn trở thành thành viên của Hội đồng châu Âu đều phải tham gia Công ước quyền con người châu Âu.
Bên cạnh việc ghi nhận các quyền và tự do cơ bản, Công ước nhân quyền châu Âu cũng quy định cơ chế giám sát thực hiện mà nòng cốt là ba cơ quan, bao gồm: Ủy ban quyền con người trực thuộc Hội đồng châu Âu (được thành lập năm 1954 nhưng đã kết thúc hoạt động từ năm 1990), Tòa án quyền con người châu Âu (1959) và Ủy ban các B ộ trưởng của Hội đồng châu Âu (gồm ngoại trưởng hoặc đại diện của các quốc gia thành viên). Công ước cũng quy định hai loại khiếu nại (applications) với những vi phạm quyền con người có thể được ti ếp nhận và xem xét, đó là khiếu nại của các cá nhân với quốc gia mà mình là công dân và khiếu nại giữa các quốc gia đối với nhau.
2.Công ước
Công ước được bổ sung bằng hơn 10 Nghị định th ư, trong đó Nghị định th ư s ố 11 (có hiệu l ực t ừ năm 1998) quy định việc thành lập Tòa án quyền con người châu Âu. Đây là c ơ quan tài phán thường tr ực c ủa khu vực, có s ố lượng thẩm phán tương ứng với s ố qu ốc gia thành viên. Các thẩm phán c ủa tòa án được bầu ra b ởi Nghị viện c ủa H ội đồng châu Âu theo nhiệm kỳ 6 năm, hoạt động với t ư cách độc lập ch ứ không phải là đại diện c ủa qu ốc gia. Tòa án được chia thành 5 phân tòa (sections), được lãnh đạo b ởi m ột chánh án (president), 5 chánh tòa (section presidents). M ỗi phân tòa bầu ra m ột H ội đồng (chamber), bao gồm Chánh tòa và sáu thẩm phán luân phiên. Tòa c ũng có một Đại Hội đồng (grand chamber) bao gồm 17 thẩm phán là các chánh án, phó chánh án và các chánh tòa.
Những khiếu kiện chống lại các quốc gia thành viên được gửi đến Tòa án quyền con người châu Âu (tại Strasbourg, Pháp) sẽ được phân loại và giao cho các phân tòa, sau đó được xem xét bởi một ủy ban gồm ba thẩm phán. Ủy ban này có thể ra quy ết định thụ lý hay không thụ lý vụ việc. Nếu được ủy ban chấp thuận, khiếu nại được xem xét b ởi một hội đồng. Các vụ việc quan trọng có thể được chuyển tới Đại Hội đồng. Từ khi thành lập đến nay, Tòa án quyền con người châu Âu đã th ụ lý và ra phán quy ết h ơn 800 v ụ việc. S ố đơn khi ếu nại g ửi đến Tòa trong nh ững năm gần đây ngày càng tăng. Đơn c ử, riêng trong năm 2008, Tòa nhận 49.850 đơn so v ới năm 2007 là 41.650 đơ n Ngoài Tòa án quyền con người, châu Âu còn có một số cơ quan bảo vệ quyền con người khác như Ủy ban chống tra tấn (CPT). Hiện tại, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở châu Âu có thể được coi là phát triển và h ữu hiệu nh ất trong t ất cả các châu l ục, kể cả trong việc đảm bảo th ực thi. V ới h ơn 800 phán quy ết c ủa Toà án cùng m ột s ố lượng l ớn các báo cáo và quy ết định c ủa Uỷ ban quyền con người châu Âu, các quyền được ghi nhận trong Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và các tự do c ơ bản và các Nghị định th ư b ổ sung đã được giải thích m ột cách chi ti ết, tạo điều kiện cho việc th ực thi đầy đủ và th ống nh ất các tiêu chuẩn này ở châu l ục. Bên cạnh đó, c ơ ch ế quyền con người ở châu Âu thể hiện tính hiệu quả cao không chỉ ở s ự phát triển về phương diện tài phán chung c ủa khu vực, mà còn ở s ự đảm bảo ở c ấp qu ốc gia. Về khía cạnh này, trong Điều 1 Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và các t ự do c ơ bản, các nước thành viên đã cam k ết “đảm bảo cho m ỗi cá nhân thu ộc quyền tài phán c ủa mình nh ững quyền và t ự do được nêu trong Công ước”. Quy định này, cùng v ới s ố lượng qu ốc gia thành viên của Công ước lên đến 47 nước (v ới khoảng 800 triệu dân), t ừ Iceland ở phía Bắc t ới Hy Lạp ở phía Nam, từ Bồ Đào Nha ở phía Tây t ới Th ổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ucraina ở phía Đông, c ơ ch ế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở châu Âu hiện là m ột c ơ chế khu vực có tác động r ộng l ớn nh ất th ế gi ới xét về mặt bảo đảm quyền con người ở c ấp độ qu ốc gia.
Đặc điểm nổi bật nhất của cơ chế quyền con người ở châu Âu là chú tr ọng t ới bảo vệ các quyền dân s ự, chính trị, v ới nh ững tiêu chuẩn cao, cụ thể và chi tiết, cùng v ới nh ững biện pháp đảm bảo th ực thi hiệu quả. Tuy nhiên, việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền kinh t ế, xã h ội, văn hóa ch ưa được chú trọng tương x ứng v ới các quyền dân s ự, chính trị trong c ơ ch ế này, mặc dù trong nh ững thập kỷ gần đây đã có nh ững cải thiện quan tr ọng.
3. Cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở châu Mỹ
C ơ ch ế quyền con người châu M ỹ có lịch s ử tương đối s ớm. Sau chi ến tranh th ế gi ới th ứ hai, các nước M ỹ La-tinh chính là nh ững qu ốc gia đầu tiên vận động cho việc xác định việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là m ột trong nh ững m ục tiêu c ơ bản c ủa Liên h ợp qu ốc. Các nước này c ũng đi tiên phong trong việc kêu g ọi soạn thảo và thông qua UDHR. Và trong khi UDHR còn đang được thảo luận tại Liên h ợp qu ốc thì các nước M ỹ latinh đã thông qua Tuyên b ố châu M ỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người (American Declaration of the Rights and Duties of Man) trong khuôn kh ổ H ội nghị c ủa T ổ ch ức các qu ốc gia châu M ỹ (OAS) tháng 4 năm 1948 (trước UDHR 6 tháng). Trên th ực t ế, r ất nhiều s ửa đổi đã được đưa vào d ự thảo UDHR xu ất phát t ừ bản Tuyên b ố này, trong đó bao gồm nh ững quy định về quyền bình đẳng gi ữa nam và n ữ, quyền được hưởng m ức s ống thích đáng, quyền được khắc ph ục h ữu hiệu khi các quyền c ơ bản c ủa con người bị vi phạm, quyền k ết hôn không phân biệt ch ủng t ộc, qu ốc tịch, tôn giáo, và kể cả s ự bình đẳng gi ữa các quyền dân s ự, chính trị và các quyền kinh t ế, xã h ội, văn hóa
Ti ếp theo đó, năm 1959, Ủy ban quyền con người châu Mỹ (InterAmerican Commission on Human Rights) được thành lập. Đến năm 1969, các nguyên tắc nền tảng trong Tuyên ngôn châu M ỹ về quyền và trách nhiệm c ủa con người được tái khẳng định trong Công ước châu Mỹ về quyền con người (American Convention on Human Rights). Công ước này xác định các quyền con người mà các qu ốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân th ủ và bảo đảm, đồng th ời, quy định việc thi ết lập Tòa án quyền con người châu Mỹ (Inter-American Court of Human Rights). Công ước này hiện có giá trị bắt bu ộc đối v ới 24 trong s ố 35 qu ốc gia thành viên c ủa OAS
Tòa án quyền con người châu Mỹ cùng với Ủy ban quyền con người châu Mỹ tạo nên bộ máy cơ quan bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở châu lục này. Trước hết nói về Ủy ban quyền con người, cơ quan này có chức năng thúc đẩy việc tuân thủ và bảo vệ quyền con người ở châu Mỹ. Ủy ban bao gồm 7 ủy viên được bầu chọn bởi Đại Hội đồng OAS cho nhiệm kỳ 4 năm, hoạt động với tư cách cá nhân. Ủy ban có một Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch.
Tòa án quyền con người châu Mỹ bao gồm 7 thẩm phán là công dân các quốc gia thành viên OAS, được bầu theo nhiệm kỳ 6 năm bởi Đại hội đồng OAS. Tòa có hai chức năng cơ bản là xét xử và tư vấn. Về chức năng xét xử, các vụ việc được chuyển đến Tòa án bởi Ủy ban quyền con người châu Mỹ hoặc bởi một quốc gia thành viên OAS. Đây là điểm khác với cơ chế quyền con người của châu Âu, nơi mà các cá nhân có quyền gửi thẳng đơn khiếu nại đến Tòa án quyền con người khu vực
Khi một cá nhân thấy rằng quyền của mình bị chính phủ vi phạm thì có thể gửi khiếu nại đến Ủy ban quyền con người châu Mỹ để xem xét khả năng thụ lý. Nếu xét thấy có thể thụ lý, Ủy ban sẽ gửi cho quốc gia liên quan một số khuyến nghị. Chỉ khi quốc gia liên quan không tuân theo các khuyến nghị này, hoặc nếu Ủy ban thấy rằng vụ việc có ý nghĩa quan trọng, thì sẽ chuyển vụ việc lên Tòa án châu Mỹ về quyền con người để giải quyết.
Thủ tục tại Tòa án châu Mỹ về quyền con người được chia thành thủ tục viết và thủ tục miệng. Trong giai đoạn thủ tục viết, đơn khiếu kiện được nộp cần bao gồm các dữ kiện liên quan, các nạn nhân, nhân chứng có thể mời có mặt tại phiên tòa, số chi phí đòi bồi thường. Nếu vụ việc được thụ lý, Tòa sẽ gửi thông báo đến quốc gia hoặc Ủy ban quyền con người của châu lục (tùy chủ thể nào nộp đơn kiện), nạn nhân và các bên liên quan. Trong vòng 30 ngày tiếp theo thông báo, bất kỳ bên nào cũng có quyền nộp đơn phản đối. Tòa án có thể họp để xem xét đơn phản đối này. Trong vòng 60 ngày tiếp theo thông báo, bên bị đơn phải cung cấp phản hồi đơn kiện bằng văn bản nêu rõ có đồng ý hay không với nội dung và yêu cầu của đơn kiện. Trong giai đoạn tranh tụng (thủ tục miệng), một hội đồng gồm năm thẩm phán của Tòa án sẽ xem xét vụ việc. Sau khi nghe các bên tranh tụng và nghị án, Tòa sẽ tuyên án. Phán quyết của Tòa án là chung thẩm, các bên không được phép kháng cáo.
Ngoài chức năng xét xử, Tòa án quyền con người châu Mỹ còn có chức năng tư vấn cho Ủy ban quyền con người và các quốc gia thành viên OAS về các vấn đề liên quan đến áp dụng Công ước châu Mỹ về quyền con người và các văn kiện khác về quyền con người của khu vực. Ngoài ra, Tòa còn có quyền tư vấn về tính phù hợp của các văn bản và dự thảo văn bản pháp luật của các quốc gia với Công ước châu Mỹ về quyền con người.
Mặc dù được hình thành từ rất sớm và khá phát triển, song không giống với cơ chế quyền con người châu Âu, cơ chế quyền con người châu Mỹ khá phức tạp, có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan. Vì vậy hiệu lực thực tế của cơ chế này có phần bị hạn chế.
4.Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở các cấp độ
Quyền con người, từ lâu đã được pháp luật nhiều quốc gia ghi nhận. Văn bản đầu tiên về QCN là Luật về các Quyền, ra đời năm 1689, như một thành quả của cuộc cách mạng tư sản Anh. Gần một thế kỷ sau, ngày 04/7/1776, Đại hội các đại biểu 13 bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập mà sau này được xem là văn kiện lịch sử đầu tiên ghi nhận về QCN. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, “mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Ngày 14/7/1789, cách mạng tư sản Pháp thành công, Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền ra đời, trong đó có ghi nhận các quyền cá nhân và quyền tập thể của tất cả giai cấp bình đẳng. Tuyên ngôn theo học thuyết về quyền tự nhiên, theo đó, Điều 1 Tuyên ngôn khẳng định “Người ta sinh ra đều tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Các văn bản trên dù mới chỉ ghi nhận một cách khái quát về QCN và chưa có những đề cập về quyền của những người dễ bị tổn thương, nhưng có thể thấy, vấn đề QCN đã được ghi nhận từ rất lâu trong các văn bản quan trọng nhất của lịch sử phát triển của loài người.
Trên nền tảng đó, khi Liên hợp quốc (LHQ) ra đời, hệ thống các QCN được ghi nhận trong cả luật quốc tế và luật quốc gia. Đầu tiên và quan trong nhất là Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948 (UDHR). Tuyên ngôn này tuy không phải là nguồn bắt buộc của LHQ nhưng lại được các quốc gia ngầm công nhận như là một nguồn chính thức cùng với các điều ước quốc tế về QCN. Đến năm 1966, LHQ đã thông qua Công ước về các Quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) quy định gần như hoàn chỉnh các QCN. Hai công ước này đã được phê chuẩn bởi hầu hết các quốc gia thành viên.
QCN được ghi nhận trong nhiều văn bản và được thực thi bởi nhiều chủ thể thông qua nhiều biện pháp thúc đẩy. Do đó, các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó cũng được quy định bên cạnh các quy định về QCN để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động bảo vệ QCN. Theo đó, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN cần hoạt động hiệu quả cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia để QCN được bảo vệ toàn vẹn.
5.Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam
Chúng ta đã thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của QCN khi đưa các quyền con người vào một chương riêng của Hiến pháp năm 2013 và đặt ở Chương 2, ngay sau chương về chế độ chính trị. Cùng với những thay đổi về nhận thức đó, thì các quy định về bảo vệ và thúc đẩy QCN được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật Lao động (BLLĐ)… Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách nào thực hiện chức năng bảo vệ QCN.
Hiến pháp năm 2013 đã quy định tương đối đầy đủ các QCN tương ứng với quy định tại các công ước quốc tế về QCN. Về các quyền dân sự và chính trị, Hiến pháp đã dành chín điều quy định về các quyền này. Theo đó, quyền sống được quy định tại Điều 19; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục được quy định tại khoản 1 Điều 20; quyền được suy đoán vô tội được quy định tại khoản 1 Điều 31; quyền được bào chữa và được sự trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt và giam giữ được quy định tại khoản 4 Điều 31; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị được quy định tại khoản 2 Điều 31; quyền được xét xử trong thời gian hợp lý và không bị trì hoãn cũng được quy định tại khoản 2 Điều 31; quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng được quy định tại Điều 16; quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch hay bị cưỡng bức lao động được quy định tại Điều 20; quyền tự do đi lại được quy định tại Điều 22 và Điều 23; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được quy định tại Điều 24; quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin và quyền tự do hội họp, lập hội cùng được quy định tại Điều 25; quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước được quy định tại Điều 27.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)